Ai đem gió lạnh về đông
Ai đem hơi ấm nhuộm hồng ngày xuân
Ai đem yêu ghét bập bùng
Ai đem chộn rộn lưng chừng hồn ai?
Vô tư trên quãng đường dài
Nào ai biết được ai hoài tình ai!
Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016
Đất nước mình ngộ quá phải không anh?
Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi...
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay...
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa...
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu...
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu...
TRẦN THỊ LAM
Trường PTTH chuyên Hà Tĩnh.
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi...
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay...
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa...
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu...
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu...
TRẦN THỊ LAM
Trường PTTH chuyên Hà Tĩnh.
Vì sao ứng viên nội bộ không được ưu tiên thăng tiến?
Theo một cuộc khảo sát có chủ đề Talent Trends (Các xu hướng phát triển nhân tài) do LinkedIn thực hiện trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 3/2016 với hơn 26.000 chuyên gia, 25% cho biết đang mong đợi được thăng tiến.
Điều đó cũng có nghĩa là họ không hề muốn rời bỏ công ty của mình mà muốn ở lại làm việc với hy vọng có cơ hội được lên những vị trí cao hơn. Cũng theo kết quả cuộc khảo sát nói trên, 24% các chuyên gia cho biết không được phát triển nghề nghiệp và tạo cơ hội thăng tiến là một trong những nguyên nhân chính khiến họ nghĩ đến chuyện tìm việc ở nơi khác.
Câu hỏi đặt ra là liệu các công ty có đang bỏ quên người tài trong nội bộ công ty hay không?. Theo Wade Burges - Phó chủ tịch phụ trách Giải pháp cho nhân tài (Talent Solutions) của LinkedIn, có 15 năm kinh nghiệm làm việc với nhân tài trong các ngành công nghệ, trường hợp này rất có thể xảy ra vì những nguyên nhân sau đây.
Các giám đốc cần tuyển nhân sự cảm thấy ứng viên nội bộ không có các kỹ năng phù hợp. Hoặc họ đang tìm kiếm những ứng viên sở hữu những kỹ năng mới mà tổ chức không tìm thấy được từ các ứng viên nội bộ.
Theo Burgess, đây là một tình huống khá phổ biến. Theo đó, các giám đốc cần tuyển nhân sự có thể đưa ra một danh sách các yêu cầu cho công việc, vị trí cần tuyển dụng cho cán bộ phụ trách tuyển dụng và yêu cầu tìm người đáp ứng chính xác những yêu cầu này.
Thế nhưng, trong bối cảnh môi trường làm việc không ngừng thay đổi như hiện nay, đây là một nhiệm vụ khó hoàn thành. Các kỹ năng thay đổi và xuất hiện mới liên tục. Vì thế, nếu không được tham gia các chương trình đào tạo và phát triển được cập nhật nội dung thường xuyên, nhân viên hiện tại khó có thể đáp ứng nhu cầu của những công việc phát sinh mới với những kỹ năng hiện có.
Thế giới công việc cũng thay đổi thường xuyên. Như Diễn đàn Kinh tế thế giới ghi nhận: “Hiện có nhiều việc mà chúng ta không hề biết đến cách đây 10 năm. Theo dự báo, khoảng 65% học sinh tiểu học hiện nay khi trưởng thành sẽ làm những công việc hoàn toàn mới mà thế hệ cha mẹ các em không hề có khái niệm”.
Tuy nhiên, theo Burgess, điều đó không có nghĩa là các công ty hoàn toàn không có lối ra để bù đắp lỗ hổng về kỹ năng cần cho các công việc mới. Lĩnh vực phát triển các phần mềm ứng dụng là một ví dụ.
Cách đây khoảng 5 năm, dù khó có thể tìm thấy kỹ năng này từ đội ngũ nhân sự hiện tại, nhưng cuối cùng các công ty cũng tìm được một số nhân viên nội bộ có kinh nghiệm phù hợp để giải quyết thành công các yêu cầu của công việc mới.
Burgess cho rằng, một trong những cách tiếp cận với vấn đề thiếu kỹ năng từ đội ngũ nhân sự nội bộ là các nhà quản lý không nên chỉ nhìn vào những gì các nhân viên đã làm được mà còn phải nhìn ra được những gì họ còn có thể làm được. Chẳng hạn, các nhân viên đang làm việc ở bộ phận quan hệ với công chúng (PR) rất có khả năng thành công ở lĩnh vực tiếp thị.
Trên thực tế, các công ty như Mars Inc., CloudOne và LinkedIn đã chủ động xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo luân chuyển nội bộ (rotation) để giúp nhân viên phát triển thêm các kỹ năng ngoài kỹ năng chính của mình.
Các công ty thường chuẩn bị cho sự ra đi của nhân viên hơn là tìm cách giữ họ lại. Theo Burgess, trong bối cảnh hiện nay, nhân viên ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn để thay đổi công việc.
Và vì tình trạng nhân viên nghỉ việc quá thường xuyên nên các công ty có khuynh hướng chạy theo đối phó với tình trạng này hơn là xây dựng các chiến lược, kế hoạch mang tính dài hạn nhằm giữ lại nhân tài như đào tạo, huấn luyện hoặc cải thiện các chính sách phúc lợi.
Tuy nhiên, Burgess cho rằng còn có một thực tế đáng báo động hơn chính là việc các công ty quan niệm rằng không nên tạo điều kiện thăng tiến cho nhân viên hiện tại vì điều đó sẽ tạo điều kiện cho họ tìm việc nơi khác dễ dàng hơn. Quan niệm này sẽ dẫn đến tình huống chẳng khác gì chuyện “con gà và quả trứng”.
Các công ty không muốn trang bị cho nhân viên những kỹ năng mới và thăng chức cho họ vì lo lắng về vấn đề lòng trung thành, nhưng điều đó cũng không cứu vãn được tình trạng suy giảm lòng trung thành của nhân viên vì họ có cảm giác mình chỉ được đối xử như những món hàng. Bởi lẽ, theo Burgess, khi các công ty không phát triển nhân viên và không thăng chức cho nhân viên nội bộ thì điều đó cũng có nghĩa là họ đang gửi đi thông điệp ấy đến nhân viên.
Burgess cảnh báo tình hình này sẽ càng căng thẳng hơn trong những năm tới vì các nhân viên thế hệ Y (độ tuổi 25-35) sẽ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trong lực lượng lao động ở các nước mà họ thì chẳng ngại “nhảy việc”.
Các công ty sợ mất bí quyết. Theo Burgess, đa số các công ty không xây dựng một văn hóa kinh doanh cởi mở. Họ luôn lo sợ các đối thủ cạnh tranh sẽ biết được các thông tin quan trọng hay các bí quyết kinh doanh của mình.
Đây chính là nguyên nhân sâu xa khiến họ không muốn đề bạt một nhân viên nội bộ lên vị trí cao và giữ nhiều thẩm quyền, trọng trách. Ngược lại, các công ty có xu hướng lôi kéo nhân sự cấp cao từ các đối thủ cạnh tranh về làm việc cho mình để khai thác thông tin. Như Tiến sĩ John Sullivan, một chuyên gia về quản trị nhân sự, từng giải thích, “Ở những tổ chức như thế, nếu một nhân viên nào đó cảm thấy họ chưa được sử dụng hết khả năng của mình, thì nhân viên đó được xem là có nguy cơ nghỉ việc cao”.
Tình trạng này sẽ làm cho nhân viên trở nên thụ động, làm việc thiếu nỗ lực và sáng tạo. Trong khi đó, nếu hiểu rõ lộ trình phát triển nghề nghiệp của mình, chắc chắn nhân viên sẽ có động cơ để làm việc tích cực hơn và đóng góp nhiều hơn.
Theo Burgess, khái niệm lòng trung thành của nhân viên nay không còn giống như trước nữa. Các công ty chỉ có thể giữ nhân viên trong một thời gian nhất định và trong thời gian đó cần phải tạo ra những chính sách, cơ chế sao cho hai bên đem lại lợi ích cho nhau nhiều nhất. Nếu chỉ vì lo ngại nhân viên không trung thành mà không lo cho sự phát triển nghề nghiệp và tạo điều kiện thăng tiến cho họ thì họ cũng sớm rời bỏ công ty.
ĐÔNG DƯƠNG (theo HBR)/DNSGCT
Điều đó cũng có nghĩa là họ không hề muốn rời bỏ công ty của mình mà muốn ở lại làm việc với hy vọng có cơ hội được lên những vị trí cao hơn. Cũng theo kết quả cuộc khảo sát nói trên, 24% các chuyên gia cho biết không được phát triển nghề nghiệp và tạo cơ hội thăng tiến là một trong những nguyên nhân chính khiến họ nghĩ đến chuyện tìm việc ở nơi khác.
Câu hỏi đặt ra là liệu các công ty có đang bỏ quên người tài trong nội bộ công ty hay không?. Theo Wade Burges - Phó chủ tịch phụ trách Giải pháp cho nhân tài (Talent Solutions) của LinkedIn, có 15 năm kinh nghiệm làm việc với nhân tài trong các ngành công nghệ, trường hợp này rất có thể xảy ra vì những nguyên nhân sau đây.
Các giám đốc cần tuyển nhân sự cảm thấy ứng viên nội bộ không có các kỹ năng phù hợp. Hoặc họ đang tìm kiếm những ứng viên sở hữu những kỹ năng mới mà tổ chức không tìm thấy được từ các ứng viên nội bộ.
Theo Burgess, đây là một tình huống khá phổ biến. Theo đó, các giám đốc cần tuyển nhân sự có thể đưa ra một danh sách các yêu cầu cho công việc, vị trí cần tuyển dụng cho cán bộ phụ trách tuyển dụng và yêu cầu tìm người đáp ứng chính xác những yêu cầu này.
Thế nhưng, trong bối cảnh môi trường làm việc không ngừng thay đổi như hiện nay, đây là một nhiệm vụ khó hoàn thành. Các kỹ năng thay đổi và xuất hiện mới liên tục. Vì thế, nếu không được tham gia các chương trình đào tạo và phát triển được cập nhật nội dung thường xuyên, nhân viên hiện tại khó có thể đáp ứng nhu cầu của những công việc phát sinh mới với những kỹ năng hiện có.
Thế giới công việc cũng thay đổi thường xuyên. Như Diễn đàn Kinh tế thế giới ghi nhận: “Hiện có nhiều việc mà chúng ta không hề biết đến cách đây 10 năm. Theo dự báo, khoảng 65% học sinh tiểu học hiện nay khi trưởng thành sẽ làm những công việc hoàn toàn mới mà thế hệ cha mẹ các em không hề có khái niệm”.
Tuy nhiên, theo Burgess, điều đó không có nghĩa là các công ty hoàn toàn không có lối ra để bù đắp lỗ hổng về kỹ năng cần cho các công việc mới. Lĩnh vực phát triển các phần mềm ứng dụng là một ví dụ.
Cách đây khoảng 5 năm, dù khó có thể tìm thấy kỹ năng này từ đội ngũ nhân sự hiện tại, nhưng cuối cùng các công ty cũng tìm được một số nhân viên nội bộ có kinh nghiệm phù hợp để giải quyết thành công các yêu cầu của công việc mới.
Burgess cho rằng, một trong những cách tiếp cận với vấn đề thiếu kỹ năng từ đội ngũ nhân sự nội bộ là các nhà quản lý không nên chỉ nhìn vào những gì các nhân viên đã làm được mà còn phải nhìn ra được những gì họ còn có thể làm được. Chẳng hạn, các nhân viên đang làm việc ở bộ phận quan hệ với công chúng (PR) rất có khả năng thành công ở lĩnh vực tiếp thị.
Trên thực tế, các công ty như Mars Inc., CloudOne và LinkedIn đã chủ động xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo luân chuyển nội bộ (rotation) để giúp nhân viên phát triển thêm các kỹ năng ngoài kỹ năng chính của mình.
Các công ty thường chuẩn bị cho sự ra đi của nhân viên hơn là tìm cách giữ họ lại. Theo Burgess, trong bối cảnh hiện nay, nhân viên ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn để thay đổi công việc.
Và vì tình trạng nhân viên nghỉ việc quá thường xuyên nên các công ty có khuynh hướng chạy theo đối phó với tình trạng này hơn là xây dựng các chiến lược, kế hoạch mang tính dài hạn nhằm giữ lại nhân tài như đào tạo, huấn luyện hoặc cải thiện các chính sách phúc lợi.
Tuy nhiên, Burgess cho rằng còn có một thực tế đáng báo động hơn chính là việc các công ty quan niệm rằng không nên tạo điều kiện thăng tiến cho nhân viên hiện tại vì điều đó sẽ tạo điều kiện cho họ tìm việc nơi khác dễ dàng hơn. Quan niệm này sẽ dẫn đến tình huống chẳng khác gì chuyện “con gà và quả trứng”.
Các công ty không muốn trang bị cho nhân viên những kỹ năng mới và thăng chức cho họ vì lo lắng về vấn đề lòng trung thành, nhưng điều đó cũng không cứu vãn được tình trạng suy giảm lòng trung thành của nhân viên vì họ có cảm giác mình chỉ được đối xử như những món hàng. Bởi lẽ, theo Burgess, khi các công ty không phát triển nhân viên và không thăng chức cho nhân viên nội bộ thì điều đó cũng có nghĩa là họ đang gửi đi thông điệp ấy đến nhân viên.
Burgess cảnh báo tình hình này sẽ càng căng thẳng hơn trong những năm tới vì các nhân viên thế hệ Y (độ tuổi 25-35) sẽ chiếm một tỷ lệ ngày càng lớn trong lực lượng lao động ở các nước mà họ thì chẳng ngại “nhảy việc”.
Các công ty sợ mất bí quyết. Theo Burgess, đa số các công ty không xây dựng một văn hóa kinh doanh cởi mở. Họ luôn lo sợ các đối thủ cạnh tranh sẽ biết được các thông tin quan trọng hay các bí quyết kinh doanh của mình.
Đây chính là nguyên nhân sâu xa khiến họ không muốn đề bạt một nhân viên nội bộ lên vị trí cao và giữ nhiều thẩm quyền, trọng trách. Ngược lại, các công ty có xu hướng lôi kéo nhân sự cấp cao từ các đối thủ cạnh tranh về làm việc cho mình để khai thác thông tin. Như Tiến sĩ John Sullivan, một chuyên gia về quản trị nhân sự, từng giải thích, “Ở những tổ chức như thế, nếu một nhân viên nào đó cảm thấy họ chưa được sử dụng hết khả năng của mình, thì nhân viên đó được xem là có nguy cơ nghỉ việc cao”.
Tình trạng này sẽ làm cho nhân viên trở nên thụ động, làm việc thiếu nỗ lực và sáng tạo. Trong khi đó, nếu hiểu rõ lộ trình phát triển nghề nghiệp của mình, chắc chắn nhân viên sẽ có động cơ để làm việc tích cực hơn và đóng góp nhiều hơn.
Theo Burgess, khái niệm lòng trung thành của nhân viên nay không còn giống như trước nữa. Các công ty chỉ có thể giữ nhân viên trong một thời gian nhất định và trong thời gian đó cần phải tạo ra những chính sách, cơ chế sao cho hai bên đem lại lợi ích cho nhau nhiều nhất. Nếu chỉ vì lo ngại nhân viên không trung thành mà không lo cho sự phát triển nghề nghiệp và tạo điều kiện thăng tiến cho họ thì họ cũng sớm rời bỏ công ty.
ĐÔNG DƯƠNG (theo HBR)/DNSGCT
Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016
Ai đem gió lạnh
Cả đời mẹ đã vì con
Trọn đợi mẹ đã vo tròn tình thương
Ngày đêm dầm dãi nắng sương
Bàn tay gầy guộc vén đường con đi
Giờ đây sức mẹ còn chi
Từng hơi thở gấp quặn ghì tim con
Mẹ ơi, mẹ chợp giấc tròn!
Làm sao đền đáp công ơn mẹ già
Bây chừ trời Huế đổ mưa
Ai đem gió lạnh đong vừa lòng ai
Huế, 2016
Những ngày bên mẹ
Trọn đợi mẹ đã vo tròn tình thương
Ngày đêm dầm dãi nắng sương
Bàn tay gầy guộc vén đường con đi
Giờ đây sức mẹ còn chi
Từng hơi thở gấp quặn ghì tim con
Mẹ ơi, mẹ chợp giấc tròn!
Làm sao đền đáp công ơn mẹ già
Bây chừ trời Huế đổ mưa
Ai đem gió lạnh đong vừa lòng ai
Huế, 2016
Những ngày bên mẹ
Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016
Em bao nhiêu tuổi
Không biêt chính xác bao lâu ta mới về lại ngôi nhà mình. Thời gian cứ trôi đi, bàn chân vẫn bương trên con đường lắm bụi, những hạt hương nhặt và gieo. Bây giờ ra sao?
Có những khi hắn muốn trở lại những nơi mà hắn đi qua, những hạt hương hắn đã gieo bên đường... Ừ, mà để làm gì ?
Kể ra, con người lắm rắc rối. Người ăn xin cũng rắc rối vô cùng. Thẫn thơ, thơ thẫn mãi
" Em bao nhiêu tuổi, em đã lấy chồng?
Để tôi ở lại với những sầu trông
Em bao nhiêu tuổi, em đã hững hờ?
Để tôi còn lại với những hồn thơ
Đời không là mơ nên đời biển động
Đời đâu là mộng sao mãi vu vơ.
Ta đã mất em trong ngày lặng nắng
Ta mãi yêu em dù giông tố chập chùng"
Có những khi hắn muốn trở lại những nơi mà hắn đi qua, những hạt hương hắn đã gieo bên đường... Ừ, mà để làm gì ?
Kể ra, con người lắm rắc rối. Người ăn xin cũng rắc rối vô cùng. Thẫn thơ, thơ thẫn mãi
" Em bao nhiêu tuổi, em đã lấy chồng?
Để tôi ở lại với những sầu trông
Em bao nhiêu tuổi, em đã hững hờ?
Để tôi còn lại với những hồn thơ
Đời không là mơ nên đời biển động
Đời đâu là mộng sao mãi vu vơ.
Ta đã mất em trong ngày lặng nắng
Ta mãi yêu em dù giông tố chập chùng"
Doanh nhân Đỗ Hòa
Giới doanh nhân TP.HCM hầu như đều biết đến ông Đỗ Hòa - Giám đốc Công ty Tư vấn Tinh Hoa Quản Trị, người được đánh giá là một nhà quản trị giàu kinh nghiệm, bộc trực, thẳng thắn và sắc sảo.
Khi còn trong vai trò Giám đốc Chiến lược và Marketing khu vực Châu Á Thái Bình Dương của tập đoàn Shell, ông đã thành công trong việc lãnh đạo một đội ngũ đa quốc tịch, đa chủng tộc, đa tôn giáo đạt thành tích kinh doanh cao, liên tục duy trì vị trí dẫn đầu.
Là sếp Việt Nam duy nhất đứng đầu một văn phòng tại tập đoàn thương mại Okura (Nhật), ông từng được mời đích danh tham gia vào Hội đồng Cố vấn của Harvard Business Review…
Ít ai biết ông Hòa xuất thân từ một chằng trai nghèo không bằng cấp, vươn lên bằng tự học, với những lối rẽ cuộc đời không theo chuẩn mực thông thường.
Người “4 nhất”
Ông Hòa kể:
- Tôi nghĩ ai cũng có hoàn cảnh, khó khăn riêng. Những năm sau giải phóng, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, ba tôi dù làm việc vất vả vẫn không nuôi nổi cả gia đình như trước. Năm 1975, khi ấy tôi 15 tuổi, ba tôi gọi người đến nhà để bán bớt đi một cái tủ áo quần, vì nhà không còn gạo để ăn. Tối hôm đó, nằm trên giường, tôi khóc. Sau đó, dù ba vẫn muốn tôi tiếp tục đi học, nhưng nghĩ đến gia cảnh, tôi quyết định nghỉ học để đi làm phụ gia đình.
Khi còn đi học, tôi nghĩ đơn giản cứ làm gì cũng được, miễn sao có tiền. Nhưng ra đời, đi làm, mới thấy thấm thía thân phận một đứa trẻ không nghề nghiệp, không bằng cấp. Tôi chỉ có thể làm những công việc lao động chân tay, và tất nhiên là số tiền kiếm được so với người khác cũng rất khiêm tốn.
Tôi quyết tâm đi học lại, vì không muốn có một tương lai ảm đạm. Tôi tin mình cũng có thể có một cuộc sống tốt hơn, như bao nhiêu người khác. Vậy là ngày đi làm, tối đi học, hết cấp 3 học tiếp đại học, cứ thế, vì động cơ học để đổi đời, nên học rất chăm, rất chuyên cần, điểm số của tôi luôn nhất nhì lớp.
Khi học đại học, tôi lại đứng trước những chọn lựa. Một số bạn tôi học Bách khoa để ra làm kỹ sư, một số khác học tiếng Nga theo xu thế lúc ấy. Riêng tôi không thích làm kỹ sư.
Thời ấy tại Đại học Ngoại ngữ, thì 80% là lớp tiếng Nga, rồi đến tiếng Trung, tiếng Anh thường chỉ một lớp. Tôi nghĩ, nếu học tiếng Nga thì cho dù có cố mấy, cũng khó mà giỏi bằng các anh chị khác học ở Liên Xô về, nên tôi chọn học một môn mà tôi có cơ hội vượt lên, hơn người khác, nếu tôi thật sự muốn thế. Vậy là tôi chọn môn tiếng Anh.
Trong công việc, cho dù làm gì tôi cũng luôn cố gắng làm một cách tốt nhất có thể. Động cơ của tôi là làm để vươn lên, làm vì tôi chứ không phải vì ai khác.
Xác định tư tưởng như vậy, tôi không phải so đo công sức mà mình bỏ ra với mức thu nhập mà người ta trả cho tôi. Và có lẽ nhờ thế tôi tiến thân trong công việc rất nhanh.
Lúc còn làm cơ quan nhà nước, dù là người “4 nhất” trong đơn vị - nhỏ tuổi nhất, bằng cấp thấp nhất, lý lịch “xấu” nhất và nghèo nhất - nhưng tôi luôn là người được biểu dương về thành tích công việc, là người có kỷ lục lên lương nhanh tại cơ quan.
Chính sách lúc ấy cứ 5 năm nếu không vi phạm gì thì được lên một bậc lương, còn thành tích khá thì 3 năm được xét lên lương, vậy mà 4 năm đầu tôi lên 4 bậc lương!
Tôi may mắn gặp một người sếp có tâm, chính ông đã đi “đấu tranh” với phòng tổ chức để tôi được đặc cách trong 4 năm liền. Ông nói, “năng lực và thành tích của nó hơn hẳn những người lương cao trong phòng này, nên không thể để thế được”.
Lên đến vị trí trợ lý tổng giám đốc thì tôi đã đụng trần, vì muốn lên nữa, trở thành trưởng phòng chẳng hạn, thì phải là đảng viên. Vậy là tôi tìm cơ hội tốt hơn ở công ty nước ngoài, và xin nghỉ việc.
Quyết chứng minh năng lực của người Việt
* Sau khi vươn lên trở thành sếp người Việt duy nhất tại Shell, rồi Okura, ông lại quyết định từ chức để làm… chân bán hàng cho một tập đoàn đa quốc gia, với mức lương chỉ bằng 1/4 so với trước?
- Ông Đỗ Hòa: Nhờ xác định làm việc vì chính mình, nên tôi cũng có được sự thăng tiến nhanh trong các công ty liên doanh, công ty nước ngoài.
Sau khi rời cơ quan Nhà nước được hai năm, thì có công ty nước ngoài thuê tôi làm tổng giám đốc. Và đó là vị trí tổng giám đốc đầu tiên của tôi, lúc 34 tuổi.
Sau khi được mời làm tổng giám đốc tại 3 công ty nước ngoài, tôi nhận ra rằng chỉ sự tận tâm và cần cù không đủ giúp tôi tiếp tục thăng tiến, nên tôi tìm cơ hội để học hỏi nâng cao trình độ quản lý.
Do lúc ấy ở Việt Nam chưa có ai dạy quản lý, nên cách duy nhất là xin vào các tập đoàn lớn để học từ thực tế, học từ cách họ quản lý kinh doanh.
Vậy là từ chức vụ tổng giám đốc một công ty của Nhật Bản, tôi xin vào làm chân bán hàng của một tập đoàn đa quốc gia, với mức lương chỉ bằng 1/4 mức lương cũ.
Khi ông sếp phỏng vấn và hỏi tôi về việc này, tôi nói: “Tôi nghĩ mức lương và vị trí này chỉ là tạm thời. Tôi tin rằng tôi có thể đóng góp cho công ty nhiều hơn, nhưng tôi cũng hiểu là công ty cần tôi chứng minh bằng hiệu quả thực tế”.
Cuối năm ấy thôi, ông Tổng giám đốc đã gọi tôi vào phòng và thông báo cho tôi biết rằng tôi được công ty đánh giá là “best performance staff” (nhân viên làm việc hiệu quả nhất) của công ty, kèm theo tiền thưởng là quyết định thăng chức lên làm trưởng phòng, với một mức lương mới.
Đến năm thứ ba tại tập đoàn này, tôi được cất nhắc lên phụ trách một công việc cấp vùng. Tôi bắt đầu phải đi lại rất thường xuyên tới các quốc gia trong ASEAN để làm việc.
Từ vị trí quản lý này, tôi cũng được tập đoàn đầu tư nhiều về đào tạo nâng cao năng lực. Với tôi, được học như nắng hạn lâu ngày gặp mưa, tôi học như để bù lại những năm còn trẻ không được học.
Tôi không chỉ học các khóa có liên quan đến công việc, mà còn xin học các khóa thuộc những lĩnh vực khác. Tôi còn tranh thủ những chuyến đi công tác để đọc sách, mỗi chuyến đi về thế nào tôi cũng mua vài cuốn sách mới để đọc.
Thời đấy ở Việt Nam chưa đâu bán sách kinh tế thị trường tự do và quản trị kinh doanh. Mãi đến sau này, khi biết chuyện, cấp trên của tôi mới ngỏ ý chấp thuận để công ty chi trả một phần tiền sách và tạp chí mà tôi mua.
Lúc ấy để đăng ký mua tạp chí Harvard Business Review và McKinsey Quarterly, tôi đã phải mua từ Châu Âu, vì họ không chấp nhận thanh toán từ Việt Nam.
* Quyết liệt vào bằng được các công ty đa quốc gia, nhưng khi đã thành đạt, ông lại quyết định rời bỏ mọi thứ, để đầu quân cho các công ty trong nước?
- Lúc làm việc cấp vùng, phải đi lại nhiều, tôi nhận ra ở một số quốc gia, người dân ở đó còn thiếu sự tôn trọng đối với người Việt.
Lý do là vì họ không có thông tin từ Việt Nam, nên họ cảm nhận người Việt qua những người đến từ Việt Nam và qua những việc không hay mà những người này làm trên đất nước của họ.
Tôi rất buồn và xấu hổ với các đồng nghiệp nước ngoài về điều đó. Vậy là tôi có thêm một động lực để quyết tâm làm việc, tôi muốn chứng minh cho các đồng nghiệp của mình thấy rằng người Việt không phải chỉ có vậy.
Năm đó, nhờ thành tích làm việc tốt, tôi được một sếp ở Châu Âu phụ trách toàn cầu chọn và bổ nhiệm vào chức vụ Giám đốc Chiến lược và Marketing cho cả vùng Châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm 10 nước ASEAN, Úc và New Zealand.
Tôi rất lấy làm tự hào về việc này.
Sau những năm chinh chiến ở nước ngoài, nhìn lại, thấy Việt Nam mình sao chậm tiến quá, thua kém người ta quá, tôi quyết định rời bỏ công việc ở tập đoàn nước ngoài để quay về Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp Việt.
Đã đi thì phải đi đến cùng
* Nhưng, ông lại thất bại khi trở về làm CEO cho Trung Nguyên, Kềm Nghĩa. Sự thất bại ấy đã giúp ông nhìn nhận lại những giá trị sống, giá trị kinh doanh của mình như thế nào?
- Tuy không thành công như ý muốn, nhưng tôi cũng không hề cảm thấy hối tiếc về quyết định của mình. Thời gian trực tiếp đóng góp cho hai doanh nghiệp Việt Nam của tôi là không dài, nhưng cũng đủ để tôi thực hiện hai điều:
Thứ nhất là hiểu doanh nghiệp Việt, nắm bắt, cập nhật về môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Thứ hai, áp dụng những gì mình học từ công ty nước ngoài vào xem có hiệu quả không.
Câu trả lời là có. Tôi đã có thể tăng tỷ suất lợi nhuận một doanh nghiệp từ 13% lên 21% chỉ sau 10 tháng. Rất tiếc là vì không có cùng quan điểm về quản lý và tham vọng phát triển, tôi đã quyết định rời bỏ công ty ấy.
Không có cơ hội để trực tiếp dẫn dắt một doanh nghiệp Việt lên tầm khu vực, lên đẳng cấp quốc tế, tôi quay sang làm một công việc mà tôi có thể gián tiếp thực hiện mục tiêu này, đó là công việc tư vấn hiện tại.
* Sau mỗi quyết định như thế, ông có thấy mình trưởng thành và mạnh mẽ hơn không?
- Thực ra, nếu muốn, tôi vẫn có thể quay lại với môi trường nước ngoài. Đã có nhiều lời mời từ phía các công ty nước ngoài. Nhưng tính tôi kiên định, đã đi thì phải đi đến cùng, đã làm thì phải làm cho ra kết quả.
Và đó là lý do vì sao mà tôi không nản chí trước những khó khăn, thách thức. Sắp tới tuổi về hưu, nhưng tôi vẫn lao vào tổ chức những công việc xã hội một cách hăng say. Dù khó khăn, nhưng tôi vẫn tin rằng mình sẽ làm được, như mình đã từng làm được!
KIM YẾN/Bizlive
Khi còn trong vai trò Giám đốc Chiến lược và Marketing khu vực Châu Á Thái Bình Dương của tập đoàn Shell, ông đã thành công trong việc lãnh đạo một đội ngũ đa quốc tịch, đa chủng tộc, đa tôn giáo đạt thành tích kinh doanh cao, liên tục duy trì vị trí dẫn đầu.
Là sếp Việt Nam duy nhất đứng đầu một văn phòng tại tập đoàn thương mại Okura (Nhật), ông từng được mời đích danh tham gia vào Hội đồng Cố vấn của Harvard Business Review…
Ít ai biết ông Hòa xuất thân từ một chằng trai nghèo không bằng cấp, vươn lên bằng tự học, với những lối rẽ cuộc đời không theo chuẩn mực thông thường.
Người “4 nhất”
Ông Hòa kể:
- Tôi nghĩ ai cũng có hoàn cảnh, khó khăn riêng. Những năm sau giải phóng, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, ba tôi dù làm việc vất vả vẫn không nuôi nổi cả gia đình như trước. Năm 1975, khi ấy tôi 15 tuổi, ba tôi gọi người đến nhà để bán bớt đi một cái tủ áo quần, vì nhà không còn gạo để ăn. Tối hôm đó, nằm trên giường, tôi khóc. Sau đó, dù ba vẫn muốn tôi tiếp tục đi học, nhưng nghĩ đến gia cảnh, tôi quyết định nghỉ học để đi làm phụ gia đình.
Khi còn đi học, tôi nghĩ đơn giản cứ làm gì cũng được, miễn sao có tiền. Nhưng ra đời, đi làm, mới thấy thấm thía thân phận một đứa trẻ không nghề nghiệp, không bằng cấp. Tôi chỉ có thể làm những công việc lao động chân tay, và tất nhiên là số tiền kiếm được so với người khác cũng rất khiêm tốn.
Tôi quyết tâm đi học lại, vì không muốn có một tương lai ảm đạm. Tôi tin mình cũng có thể có một cuộc sống tốt hơn, như bao nhiêu người khác. Vậy là ngày đi làm, tối đi học, hết cấp 3 học tiếp đại học, cứ thế, vì động cơ học để đổi đời, nên học rất chăm, rất chuyên cần, điểm số của tôi luôn nhất nhì lớp.
Khi học đại học, tôi lại đứng trước những chọn lựa. Một số bạn tôi học Bách khoa để ra làm kỹ sư, một số khác học tiếng Nga theo xu thế lúc ấy. Riêng tôi không thích làm kỹ sư.
Thời ấy tại Đại học Ngoại ngữ, thì 80% là lớp tiếng Nga, rồi đến tiếng Trung, tiếng Anh thường chỉ một lớp. Tôi nghĩ, nếu học tiếng Nga thì cho dù có cố mấy, cũng khó mà giỏi bằng các anh chị khác học ở Liên Xô về, nên tôi chọn học một môn mà tôi có cơ hội vượt lên, hơn người khác, nếu tôi thật sự muốn thế. Vậy là tôi chọn môn tiếng Anh.
Trong công việc, cho dù làm gì tôi cũng luôn cố gắng làm một cách tốt nhất có thể. Động cơ của tôi là làm để vươn lên, làm vì tôi chứ không phải vì ai khác.
Xác định tư tưởng như vậy, tôi không phải so đo công sức mà mình bỏ ra với mức thu nhập mà người ta trả cho tôi. Và có lẽ nhờ thế tôi tiến thân trong công việc rất nhanh.
Lúc còn làm cơ quan nhà nước, dù là người “4 nhất” trong đơn vị - nhỏ tuổi nhất, bằng cấp thấp nhất, lý lịch “xấu” nhất và nghèo nhất - nhưng tôi luôn là người được biểu dương về thành tích công việc, là người có kỷ lục lên lương nhanh tại cơ quan.
Chính sách lúc ấy cứ 5 năm nếu không vi phạm gì thì được lên một bậc lương, còn thành tích khá thì 3 năm được xét lên lương, vậy mà 4 năm đầu tôi lên 4 bậc lương!
Tôi may mắn gặp một người sếp có tâm, chính ông đã đi “đấu tranh” với phòng tổ chức để tôi được đặc cách trong 4 năm liền. Ông nói, “năng lực và thành tích của nó hơn hẳn những người lương cao trong phòng này, nên không thể để thế được”.
Lên đến vị trí trợ lý tổng giám đốc thì tôi đã đụng trần, vì muốn lên nữa, trở thành trưởng phòng chẳng hạn, thì phải là đảng viên. Vậy là tôi tìm cơ hội tốt hơn ở công ty nước ngoài, và xin nghỉ việc.
Quyết chứng minh năng lực của người Việt
* Sau khi vươn lên trở thành sếp người Việt duy nhất tại Shell, rồi Okura, ông lại quyết định từ chức để làm… chân bán hàng cho một tập đoàn đa quốc gia, với mức lương chỉ bằng 1/4 so với trước?
- Ông Đỗ Hòa: Nhờ xác định làm việc vì chính mình, nên tôi cũng có được sự thăng tiến nhanh trong các công ty liên doanh, công ty nước ngoài.
Sau khi rời cơ quan Nhà nước được hai năm, thì có công ty nước ngoài thuê tôi làm tổng giám đốc. Và đó là vị trí tổng giám đốc đầu tiên của tôi, lúc 34 tuổi.
Sau khi được mời làm tổng giám đốc tại 3 công ty nước ngoài, tôi nhận ra rằng chỉ sự tận tâm và cần cù không đủ giúp tôi tiếp tục thăng tiến, nên tôi tìm cơ hội để học hỏi nâng cao trình độ quản lý.
Do lúc ấy ở Việt Nam chưa có ai dạy quản lý, nên cách duy nhất là xin vào các tập đoàn lớn để học từ thực tế, học từ cách họ quản lý kinh doanh.
Vậy là từ chức vụ tổng giám đốc một công ty của Nhật Bản, tôi xin vào làm chân bán hàng của một tập đoàn đa quốc gia, với mức lương chỉ bằng 1/4 mức lương cũ.
Khi ông sếp phỏng vấn và hỏi tôi về việc này, tôi nói: “Tôi nghĩ mức lương và vị trí này chỉ là tạm thời. Tôi tin rằng tôi có thể đóng góp cho công ty nhiều hơn, nhưng tôi cũng hiểu là công ty cần tôi chứng minh bằng hiệu quả thực tế”.
Cuối năm ấy thôi, ông Tổng giám đốc đã gọi tôi vào phòng và thông báo cho tôi biết rằng tôi được công ty đánh giá là “best performance staff” (nhân viên làm việc hiệu quả nhất) của công ty, kèm theo tiền thưởng là quyết định thăng chức lên làm trưởng phòng, với một mức lương mới.
Đến năm thứ ba tại tập đoàn này, tôi được cất nhắc lên phụ trách một công việc cấp vùng. Tôi bắt đầu phải đi lại rất thường xuyên tới các quốc gia trong ASEAN để làm việc.
Từ vị trí quản lý này, tôi cũng được tập đoàn đầu tư nhiều về đào tạo nâng cao năng lực. Với tôi, được học như nắng hạn lâu ngày gặp mưa, tôi học như để bù lại những năm còn trẻ không được học.
Tôi không chỉ học các khóa có liên quan đến công việc, mà còn xin học các khóa thuộc những lĩnh vực khác. Tôi còn tranh thủ những chuyến đi công tác để đọc sách, mỗi chuyến đi về thế nào tôi cũng mua vài cuốn sách mới để đọc.
Thời đấy ở Việt Nam chưa đâu bán sách kinh tế thị trường tự do và quản trị kinh doanh. Mãi đến sau này, khi biết chuyện, cấp trên của tôi mới ngỏ ý chấp thuận để công ty chi trả một phần tiền sách và tạp chí mà tôi mua.
Lúc ấy để đăng ký mua tạp chí Harvard Business Review và McKinsey Quarterly, tôi đã phải mua từ Châu Âu, vì họ không chấp nhận thanh toán từ Việt Nam.
* Quyết liệt vào bằng được các công ty đa quốc gia, nhưng khi đã thành đạt, ông lại quyết định rời bỏ mọi thứ, để đầu quân cho các công ty trong nước?
- Lúc làm việc cấp vùng, phải đi lại nhiều, tôi nhận ra ở một số quốc gia, người dân ở đó còn thiếu sự tôn trọng đối với người Việt.
Lý do là vì họ không có thông tin từ Việt Nam, nên họ cảm nhận người Việt qua những người đến từ Việt Nam và qua những việc không hay mà những người này làm trên đất nước của họ.
Tôi rất buồn và xấu hổ với các đồng nghiệp nước ngoài về điều đó. Vậy là tôi có thêm một động lực để quyết tâm làm việc, tôi muốn chứng minh cho các đồng nghiệp của mình thấy rằng người Việt không phải chỉ có vậy.
Năm đó, nhờ thành tích làm việc tốt, tôi được một sếp ở Châu Âu phụ trách toàn cầu chọn và bổ nhiệm vào chức vụ Giám đốc Chiến lược và Marketing cho cả vùng Châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm 10 nước ASEAN, Úc và New Zealand.
Tôi rất lấy làm tự hào về việc này.
Sau những năm chinh chiến ở nước ngoài, nhìn lại, thấy Việt Nam mình sao chậm tiến quá, thua kém người ta quá, tôi quyết định rời bỏ công việc ở tập đoàn nước ngoài để quay về Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp Việt.
Đã đi thì phải đi đến cùng
* Nhưng, ông lại thất bại khi trở về làm CEO cho Trung Nguyên, Kềm Nghĩa. Sự thất bại ấy đã giúp ông nhìn nhận lại những giá trị sống, giá trị kinh doanh của mình như thế nào?
- Tuy không thành công như ý muốn, nhưng tôi cũng không hề cảm thấy hối tiếc về quyết định của mình. Thời gian trực tiếp đóng góp cho hai doanh nghiệp Việt Nam của tôi là không dài, nhưng cũng đủ để tôi thực hiện hai điều:
Thứ nhất là hiểu doanh nghiệp Việt, nắm bắt, cập nhật về môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Thứ hai, áp dụng những gì mình học từ công ty nước ngoài vào xem có hiệu quả không.
Câu trả lời là có. Tôi đã có thể tăng tỷ suất lợi nhuận một doanh nghiệp từ 13% lên 21% chỉ sau 10 tháng. Rất tiếc là vì không có cùng quan điểm về quản lý và tham vọng phát triển, tôi đã quyết định rời bỏ công ty ấy.
Không có cơ hội để trực tiếp dẫn dắt một doanh nghiệp Việt lên tầm khu vực, lên đẳng cấp quốc tế, tôi quay sang làm một công việc mà tôi có thể gián tiếp thực hiện mục tiêu này, đó là công việc tư vấn hiện tại.
* Sau mỗi quyết định như thế, ông có thấy mình trưởng thành và mạnh mẽ hơn không?
- Thực ra, nếu muốn, tôi vẫn có thể quay lại với môi trường nước ngoài. Đã có nhiều lời mời từ phía các công ty nước ngoài. Nhưng tính tôi kiên định, đã đi thì phải đi đến cùng, đã làm thì phải làm cho ra kết quả.
Và đó là lý do vì sao mà tôi không nản chí trước những khó khăn, thách thức. Sắp tới tuổi về hưu, nhưng tôi vẫn lao vào tổ chức những công việc xã hội một cách hăng say. Dù khó khăn, nhưng tôi vẫn tin rằng mình sẽ làm được, như mình đã từng làm được!
KIM YẾN/Bizlive
Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014
Dắt Tay Nhau Ði Dưới Tấm Biển Chỉ Ðường Của Trí Tuệ
Mấy lời phi lộ
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự quá hạn hẹp về hiểu biết của mình mà cả gan làm bàn chuyện quốc gia đại sự. Nhưng biết đâu nỗi bức xúc này lại chẳng là chung của nhiều người!
Xin được tiếp cận vấn đề từ góc nhìn của những quy luật lôgic khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên. Bài viết có tính chất gợi mở, cung cấp một số nhận thức cơ bản để suy nghĩ, chưa giải quyết vấn đề gì cụ thể, trọn vẹn.
Nếu từ bài viết có thể lọc ra một chút gì đó gọi được là cái hạt nhân hợp lý thì đối với người viết đã là điều may mắn lắm rồi, nên xin miễn phi lộ dài dòng về những sai sót khó tránh khỏi. Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm, và cá nhân người viết xin nhận trách nhiệm trước mọi sự phán xét.
Những điều này nói ra hôm nay là đã quá muộn.
Viết ngày 2 tháng 9 năm 1988
(bài viết cách đây gần 20 năm, nhưng vẫn còn nguyên giá trị với hiện tại)
Tú Xuân Hà Sỹ Phu
Hãy thử để cho trí tuệ được vài phút tự do, xem nó có thể mách bảo ta điều gì. Sau đó, nếu thấy không có gì ích lợi thì xin mọi người cứ coi đây như những lời nhảm nhí mà loại nó ra khỏi bộ nhớ, tưởng cũng chẳng tốn kém là bao. Ít ra điều đó cũng chứng tỏ rằng chúng ta đã có sự trao đổi dân chủ thực sự.
Chúng ta hãy cùng nhau tham gia vào việc giải thử bài toán lôgic lớn của xã hội mà bấy lâu nay cứ ở trong tình trạng vừa như rất đơn giản vừa như quá thần bí không có lời giải : Mọi điều rắc rối bắt nguồn từ đâu?
Bây giờ ta làm theo cách công khai và dân chủ. Mọi người hãy tạm thời thoát ly khỏi những nếp suy nghĩ mà ta đang có, kể cả những tư duy đang được coi là đổi mới, tạm thời thoát ly khỏi những điều đang gắn chặt với quyền và lợi của ta hàng ngày, để cùng ngồi lên chiếc xe của tư duy lôgic. Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật, mọi chủ nghĩa… đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không được kém.
Đi một vòng để quan sát toàn bộ bức tranh, ta có nhận xét tổng quát rằng hệ thống mà ta đang khảo sát chứa đựng quá nhiều nghịch lý :
- Hệ thống dân chủ gấp triệu lần lại vướng mắc chính vấn đề dân chủ.
- Hệ thống tiêu biểu cho sự thật (có các nhà xuất bản Sự thật, và chúng ta thường nói chỉ chúng ta mới có đủ dũng cảm nói sự thật) thì đang phải cố chữa cho được bệnh nói dối.
- Hệ thống tiêu biểu cho triết học duy vật lại là điển hình của bệnh duy ý chí
- Hệ thóng ưu việt (tức là tốt vượt hẳn lên), tiêu biểu cho sự giải phóng Con người, thì lại không ưu việt về quyền Con người, luôn bị chỉ trích về quyền Con người :
- Hệ thống tiêu biểu cho sự đề cao những giá trị tinh thần thì lại xuống cấp những giá trị đạo đức, đang cần làm lành mạnh trở lại những quan hệ xã hội và gia đình.
- Hệ thống tiêu biểu cho tính nhân loại, tính tập thể thì lại xuất hiện nhiều ví dụ tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào tay một người, lấy một người thay cho tất cả.
- Hệ thống tiêu biểu cho sức sáng tạo của tri thức (xem định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa cộng sản và người cộng sản) thì vấn đề tri thức lại cứ cộm lên như một hạt nhân của toàn bộ cái hiện thực cần phải cải tổ.
- Chúng ta vẫn nói sự thắng thua giữa các chế độ rốt cuộc là ở năng suất lao động. Ta luôn nói về những thắng lợi to lớn nhưng chính về năng suất lao động thì ta lại thua quá xa!
- Hệ thống xã hội chủ nghĩa được mô tả đầy sức sống, còn chủ nghĩa tư bản thì đang giẫy chết. Vậy mà, trong tất cả những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía giẫy chết cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia!
* Ta thấy rằng những nghịch lý trên đã và vẫn còn tồn tại nguyên vẹn sau 20 năm .
Trước thực tế ấy, nhiều luận điểm đã và đang được chúng ta đưa ra để giải thích. Ví dụ :
- Ta có đường lối đúng đắn nhưng khi thực hiện thì có sai lầm. Trên thì đúng đắn nhưng cán bộ trung gian quá yếu. Chủ nghĩa thì đúng đắn nhưng con đường quá mới mẻ nên ta chưa có kinh nghiệm.
- Đây là khó khăn tạm thời do chiến tranh để lại, bè lũ Đế Quốc, Thực dân và bọn Bành trướng phải chịu trách nhiệm về tình hình khó khăn này.
- Do có những cá nhân không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên thoái hoá, biến chất.
- Do chế độ quan liêu bao cấp. Do thiếu sót về những tư duy cụ thể như tư duy kinh tế, tư duy đối ngoại, v. v…
Trước một xã hội đầy những nghịch lý lớn lao đã kể ở trên thì những luận điểm giải thích này dẫu có phản ảnh được phần nào đấy hiện thực cũng không đủ tầm để bao quát cả một thời kỳ của lịch sử nhân loại. Nó khác nào như đem dầu xoa, thuốc cảm để chữa ung thư vậy.
Từ khi có cuộc Cải tổ, Đổi mới trong phạm vi toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đến nay, chúng ta đã làm được một việc là đem bày ra công khai trước mọi người một số tư liệu để chúng ta nhìn cho đúng chân dung của mình, một chân dung mà tự mình cũng thấy không thể chấp nhận được.
Những hiện tượng tiêu cực rất cần được phơi bày, nhưng phơi bày mãi cũng không bao giờ hết, và nếu cứ sửa chữa theo kiểu thợ vườn sai đâu sửa đấy thì chẳng khác nào chơi trò trốn tìm vòng quanh. Điều quan trọng là những hiện tượng tiêu cực đã nêu cần phải hệ thống hoá lại, tìm mối liên hệ nhân quả giữa chúng, rồi theo mạch lôgic mà tìm đến nguyên nhân gốc rễ. Cái mạch lôgic ấy chẳng chóng thì chày sẽ tự động diễn ra trong đầu mỗi người nên dầu ta có sợ cũng không cản lại được. Vận mệnh lâu dài của hàng nghìn triệu người cũng đòi hỏi phải làm như vậy, nếu không mọi sự sửa chữa đều chỉ là sự đối phó nhất thời.
Những thông tin, nhất là thông tin từ cuộc Cải tổ ở Liên xô, đã bộc lộ dần một vài hướng suy nghĩ. Chẳng hạn :
- Cần xem lại một số luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay ít ra là xem lại cách hiểu về những luận điểm cơ bản ấy (ý nghĩ này chẳng có gì mới lạ vì chính Mác và Lênin cũng khuyên như thế và cũng từng làm như thế).
- Chủ nghĩa Đế quốc có thật là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản hay chỉ là một trong những bước đi ban đầu của chủ nghĩa tư bản !Và một khi chủ nghĩa tư bản chưa ở giai đoạn tất yếu phải cáo chung thì điều đó có nghĩa là lịch sử chưa đòi hỏi và chưa tạo tiền đề để có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đích thực…
Chưa nói nguyên nhân nào là đúng, nguyên nhân nào là sai, nhưng ít ra nguyên nhân cũng phải ở tầm cỡ như vậy mới có thể có sức chi phối ghê gớm đối với xã hội như chúng ta đã và đang thấy.
Song ta cũng không cần nói theo ai cả. Hãy dùng hiểu biết của chính mình mà rà soát lại toàn bộ vấn đề xem có tự phát hiện được điều gì không?
Điều đầu tiên để hiểu một chủ nghĩa là xem mục đích và phương tiện mà chủ nghĩa ấy đề cập tới.
Lý tưởng cộng sản là một lý tưởng hết sức tốt đẹp. Vì đã gọi là lý tưởng thì lý tưởng nào chẳng hướng tới hạnh phúc của con người, giải phóng con người khỏi những bất hạnh về vật chất, tinh thần và sự bất công xã hội? Lý tưởng cộng sản nhấn mạnh tính xã hội của con người cũng như của tư liệu sản xuất, điều đó là khoa học, là xu hướng tiến hoá tất yếu của xã hội loài người, nhưng sự xã hội hoá sẽ diễn ra cụ thể thế nào là thuận quy luật thì sẽ bàn sau. Một xã hội không còn người bóc lột người, chính điều này còn gây tranh luận, vì nếu hiểu một cách chung chung là không còn áp bức bất công thì chẳng có gì để tranh luận, nhưng nếu hiểu chữ bóc lột ở đây như một thuật ngữ kinh tế chính trị học, là bóc lột giá trị thặng dư , thì vấn đề lại không đơn giản chút nào. Tuy vậy vấn đề này cũng xin tạm xếp sang một bên, vì tự nó cũng chưa thể là nguyên nhân sinh ra mọi chuyện.
Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với một lý tưởng lại là đi tới lý tưởng đó bằng cách nào, bằng phương tiện hay công cụ gì. Luận điểm về con đường đấu tranh giai cấp và công cụ chuyên chính vô sản chính là hòn đá tảng của chủ nghĩa xã hội khoa học . Do tầm quan trọng như vậy mà ta hãy dừng lại lâu một chút trên hòn đá tảng này để xem xét cho kỹ, không thể vội và cho qua được.
Giai cấp là gì, và ý nghĩa của nó trong xã hội như thế nào?
Để phân định điều phải và quyết định thái độ cũng như hành động của mình, con người có ba thứ căn cứ : trí thức, lòng tin và quyền lợi.
Luôn lấy trí thức, lấy khoa học làm căn cứ, đó là chủ nghĩa DUY Lý (1), cái gì trái với quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Luôn lấy lòng tin làm căn cứ là chủ nghĩa DUY TIN (2), cái gì trái với những điều mình tin, mình cho là thiêng liêng thì không chấp nhận. Luôn lấy lợi ích làm căn cứ là chủ nghĩa DUY LỢI (3), cái gì trái với lợi ích của mình hay của những người chung lợi ích với mình thì không chấp nhận.
Theo mức độ duy lý, con người chia thành tri thức và không tri thức. Theo mức độ duy tín thì chia thành có tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Người thực sự duy lý hay thực sự duy tin thì tự thân không có tính giai cấp rõ rệt, vì sự phân chia giai cấp chỉ là sự phân chia theo quyền lợi. (Giai cấp là những tập đoàn người được phân chia theo sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, theo vai trò trong tổ chức sản xuất và theo sự phân phối của cải xã hội : cả ba tiêu chuẩn này đều là quyền và lợi). Hiểu theo nghĩa đó thì người mang tính giai cấp rõ rệt là người duy lợi (túc là lấy lợi ích làm chuẩn, kể cả lợi ích chân chính, lợi ích của một giai cấp).
Vì vậy sự phân chia con người thành giai cấp tuy có những ý nghĩa nhất định nhưng không phải là sự phân chia duy nhất có ý nghĩa, không hoàn toàn đầy đủ, không bao hàm được hết xã hội. Tuyệt đối hoá lý thuyết giai cấp là rơi vào thuyết giai cấp cực đoan. Đem cái nhìn giai cấp trùm lên mọi hiện tượng của con người và xã hội sẽ không tránh khỏi làm méo mó xã hội, sẽ gặp lúng túng khi giải quyết vấn đề tri thức, vấn đề tôn giáo cùng như nhiều vấn đề xã hội khác.
Vì quan niệm rằng người nào cũng phải có một thành phần giai cấp nên ta gặp lúng túng khi không biết xếp những người tri thức vào giai cấp nào, và gán luôn cho họ cái bản chất lừng khừng không kiên quyết cách mạng . Thực tế đã cho thấy nhiều nhà bác học đã kiên quyết lên giàn lửa để bảo vệ chân lý khoa học, người tín đồ kiên quyết cách mạng đến mức trở thành lãnh tụ cách mạng, khi nhận thức rằng sự vận động đó phù hợp với quy luật, phù hợp với căn cứ duy lý của mình.
Duy lý, duy tín và duy lợi tuy khác nhau ở xuất phát điểm nhưng muốn hành động đạt được kết quả tốt thì lại cần sự hỗ trợ của nhau : vì thế nếu phát triển đến độ hoàn hảo thì lại gặp nhau, thống nhất với nhau. Nhưng trong thực tế, ở một phạm vi xác định, ở một con người cụ thể thì ba căn cứ ấy ít khi đạt được sự thống nhất hoàn hảo, thường có tình trạng một trong ba căn cứ ấy nổi lên chiếm vai trò chủ đạo để dẫn dắt hành vi của con người. Ba yếu tố ấy đan vào nhau, chuyển hoá lẫn nhau trong mối quan hệ tay ba vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, nên việc tách bạch ba yếu tố ấy trong một con người, trong một việc làm không phải là điều dễ dàng, và đó là nguồn gốc sâu xa của biết bao hiện tượng rối rắm nan giải của xã hội và của mỗi con người. Nhiều người đã tuyên bố chủ trương kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp công nhân , nói cách khác là chủ trương chung sống hài hoà giữa duy lý và duy lợi Nhưng trong cuộc chung sống lâu dài thì cái cân bằng rất hợp lý này cứ chuyển dịch để duy lợi thôn tính dần duy lý.
Các Mác rất coi trọng vấn đề lợi ích và đây là một điều đáng quý ở một nhà khoa học, nhưng là nhà khoa học, Mác đứng ở góc độ duy lý mà tiếp cận sang duy lợi. Nhiều người khác cũng đi theo chủ nghĩa Mác nhưng lại từ góc độ duy lợi mà tiếp cận sang duy lý. Người càng ít hiểu biết thì tính duy lý càng ít (nhân bất học, bất trí ly), để thành duy lợi cực đoan, hoặc lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo.
Trong ba căn cứ ấy thì duy lý tiêu biểu cho khoa học, cho quy luật khách quan nên là căn cứ đúng đắn nhất, nó bao dung dược cái duy lợi và duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa duy lợi hay duy tín mà nắm vai trò dẫn dắt xã hội thì nó rất dễ tiến đến cực đoan mà không chấp nhận nói cái duy lý. Giáo hội La mã ngày trước đã thiêu sống nhiều nhà bác học chỉ vì họ phát hiện những định luật khoa học. Những tên vua Trung Quốc nào võ biên ít học thì đã phân thư, khanh nho (đốt sách giết nhà nho). Những hồng vệ binh mù chữ Trung Quốc và những tên lính Pônpốt mù chữ Campuchia đã hành hạ những trí thức ưu tú của dân tộc mình. Phong trào Xô viết Nghệ tĩnh năm 1930 đã đặt tri thức lên hàng đầu trong khẩu hiệu Trí, phú, địa hao – Đào tận gốc, trốc tận rễ!. Nhiều nạn nhân văn hoá của Liên xô đã là nạn nhân điển hình của những sự đối xử tương tự…
Nhìn rộng ra nửa thì lịch sử tiến hoá của nhân loại thực chất là gì?
Do biết sử dụng công cụ nên, khác với mọi sinh vật, con người không tiến hoá bằng cách biến đổi những cấu tạo của cơ thể mà bằng cách hoàn thiện không ngừng công cụ lao động. Cùng với sự cải tiến công cụ là cải tiến quy trình sản xuất, hoàn thiện kỹ năng… dẫn đến tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tất cả những biến đổi cơ bản ấy đều là biểu hiện sự gia tăng tri thức của con người về các quy luật tự nhiên và quy luật quản lý, tổ chức xã hội. Vậy thì, cái lõi bên trong của dòng tiến hoá là dòng phát triển của trí thức nhân loại, còn sự đấu tranh giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, tức là sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ, là những hiện tượng xã hội kèm theo mà thôi. Dòng gia tăng tri thức của xã hội là cái lõi, nó phản ánh bản chất của sự tiến hoá nên không thể thiếu và tồn tại xuyên suốt từ đầu đến cuối lịch sử loài người. Còn sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ bên ngoài, là một trong những hiện tượng xã hội kèm theo nên chỉ có tính chất tạm thời, luôn thay đổi màu sắc, và con người có khả năng sử dụng nó, hoặc giảm nhẹ hay loại trừ nó đi trong nhiều giai đoạn của dòng tiến hoá bất tận.
Khi nói trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuẩt là yếu tố năng động nhất thì sẽ là thiếu sót nếu không tiếp tục nói : trong lực lượng sản xuất thì sự năng động ấy nằm ở yếu tố con người, trong con người thì sự năng động ấy nằm ở bộ óc tức là phần lao động trí tuệ.
Bản chất của sự tiến hoá là như vậy. Tinh thần khoa học quan trọng nhất trong học thuyết xã hội của Mác đáng lẽ cũng phải là như vậy. Nhưng dưới lăng kính giai cấp nhiều cuốn sách lại có lối mô tả dòng tiến hoá của xã hội như sau :… Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ… . Lối mô tả ấy xuất phát từ nhận thức sai lầm coi dòng tiến hoá là dòng đấu tranh của những giai cấp bị trị lật đổ những giai cấp thống trị, nên mỗi khi giai cấp bị trị không nắn được quyền lãnh đạo trong xã hội mới thì chúng ta coi là công lao của họ bị lợi dụng. Thế thì lịch sử là một chuỗi bất công đầy vô lý, trong đó những kẻ xấu bụng đi lợi dụng công lao người khác lại cứ được lịch sử cho kế tiếp nhau điều khiển xã hội. Đến khi có cách mạng vô sản thì mới phát sinh một ngoại lệ, giai cấp công nhân là giai cấp bị trị lên lãnh đạo xã hội và ngoại lệ này mới chính là niềm mơ ước của nhân loại (!!).
Không, lịch sử rất thống nhất chứ không tuỳ tiện. Mỗi cuộc biến đổi được gọi là cách mạng xã hội bao giờ cũng là sự cạnh tranh của hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai bậc thang về trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ khác nhau của khoa học, của tri thức con người thời ấy. Thế lực lãnh đạo mới sẽ thắng vì có trình độ cao hơn (thế lực có trình độ cao hơn này không bao giờ nằm ở giai cấp bị trị, dù giai cấp bị trị có tạm thời đoạt được quyền binh thì trước sau họ cũng lại rơi vào quỹ đạo của những thế lực kia). Sự đấu tranh của giai cấp bị trị cũng như của quần chúng nói chung chỉ có tác dụng tạo ra áp lực to lớn của xã hội giúp cho chuyên chính mau chóng chuyển từ tay thế lực lãnh đạo cũ sang tay thế lực lãnh đạo mới, điều này đáp ứng yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội. Lôgic của lịch sử vốn là như vậy, bất chấp chúng ta vừa lòng hay không vừa lòng. Việc đưa giai cấp công nhân vào vị trí giai cấp lãnh đạo trong toàn xã hội mới là một việc làm mang tính đạo đức, làm nức lòng số đông đang công phẫn nên có sức mạnh tập hợp to lớn trong thời kỳ đầu, nhưng không theo quy luật nên dễ tự phát sinh mâu thuẫn trong những giai đoạn sau.
Nhiều người nhận xét rằng càng về sau việc thực thi chủ nghĩa Mác càng có xu hướng không đúng với những tinh thần nguyên lý ban đầu của Mác và chiều hướng của những sai lệch dường như có tính lôgic, tính quy luật.
Thực tế đã bộc lộ một nhận thức sai lệch của nhiều người, hiểu tinh thần chính của chữ cách mạng là ở ý nghĩa lật đổ, lật đổ người giàu, lấy của chia cho người nghèo như các anh hùng hảo hán ngày xưa vẫn làm. Đây là biểu hiện chủ nghĩa bình quân thiển cận của nông dân. Chủ nghĩa bình quân gắn chặt với tư tưởng lật đổ. Khi mình chưa có thì muốn lật đổ để cạo bằng, cạo bằng được rồi lại muốn mình giàu hơn người khác, lật đổ vua nhưng rồi mình lại thành vua.
Muốn làm giảm tận gốc bất công xã hội và tăng hạnh phúc của nhân dân thì sự công bằng phải đặt trên cơ sở nâng cao cả nền sản xuất của xã hội. Động tác chính của cách mạng là động tác nâng cao chứ không phải động tác cạo bằng. Cạo bằng là động tác của bạo lực, nâng cao là động tác của tri thức khoa học, của năng lực tổ chức sản xuất và tổ chức xã hội. Chúng ta đấu tranh cho công bằng chứ không chấp nhận sự cạo bằng, vì cạo bằng làm cho xã hội thấp đi và tạo ra sự bất công mới khốc liệt hơn.
Nếu ta mới chỉ đạt những thắng lợi to lớn trong những việc mang tính lật đổ và cạo bằng mà chưa có những thắng lợi to lớn trong việc nâng cao thì thực chất là chưa có cách mạng. Cách mạng xã hội không đồng nghĩa với cướp chính quyền, cũng không đồng nghĩa với giải phóng dân tộc… mặc dù những hình thức đấu tranh chống áp bức, đòi công bằng xã hội (trong đó có đấu tranh giai cấp)đều rất cần thiết, và còn luôn luôn cần thiết trong xã hội loài người, đều có giá trị riêng của nó và liên quan mật thiết với nhau.
Giai cấp bị trị trong xã hội cũ không thể trở thành giai cấp lãnh đạo trong xã hội mới vì bản thân giai cấp bị trị không thể tiêu biểu cho trình độ nhất của tri thức con người thời ấy. Chính vì thế mà khi muốn đưa giai cấp công nhân thành giai cấp lãnh đạo, Mác đã phải đặt ra một điều kiện rằng đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp để có thể tiêu biểu cho nền sản xuất hiện đại, để công nhân đồng thời là trí thức.
Nhưng thử nhìn vào các nước tư bản đã có nền đại công nghiệp hiện nay thì ta thấy tầng lớp tiêu biểu cho khoa học, cho trí thức tiên tiến của các nước ấy không thể nào lại là công nhân của các nước ấy được, mặc dù trình độ công nhân của họ cao hơn của các nước khác rất nhều. Mà hình như khi trình độ của những công nhân ấy được nâng cao lên (như ở Nhật bản chẳng hạn) thì họ lại giảm đấu tranh đi, tức là giảm sự giác ngộ giai cấp , tức là giảm khả năng trở thành lãnh đạo cách mạng. Như vậy thì chính yêu cầu của Mác đề ra cũng có thể còn là bật cấp, huống chi những người Bôn-sê-vich Nga (cũng như đảng Cộng sản ở nhiều nước đã làm cách mạng vô sản) thì lại bất chấp cả yêu cầu tối thiểu ấy của Mác, chủ trương làm cách mạng ngay trong khi giai cấp công nhân nước mình còn cách xa yêu cầu của Mác. Chưa kể trường hợp mà sự lãnh đạo thực chất còn nằm trong quỹ đạo nông dân thì đương nhiên còn tai hại hơn.
Phải chăng do ý thức được cái lỗ hổng này mà Lê-nin đã yêu cầu người cộng sản phải cấp trau giồi trí thức, và tự Lê-nin đã nêu một tấm gương về sự sử dụng trí thức, kể cả trí thức của chế độ cũ. Lê-nin nói : Chỉ có đem toàn bộ kho trí thức của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản!. Cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức. Chất cộng sản và chất trí thức phải chung làm một. Nếu một đảng viên đều được kết nạp trên tinh thần ấy của Lê-nin thì đảng cộng sản chính là đảng của trí thức cách mạng.
Nhưng trong thực tế thì lời giáo huấn ấy có thực hiện được không?
Đây là một tình trạng có thật và khá phổ biến : Chúng tôi là những con em công nhân và nông dân. Nếu chúng tôi chỉ học khoảng hết cấp một và ở lại địa phương sản xuất thì với lòng hăng say mà chúng tôi vốn có giám chắc rằng chúng tôi đã thành đảng viên từ lâu rồi. Nhưng chúng tôi lại ham học. Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau giồi bao nhiêu trí thức và khoa học tự nhiên, về triết học Mác Lê-nin, về chính trị… thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành thành phần tiểu tư sản bấp bênh. Trở thành kỹ sư, tiến sỹ, giáo sư… thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học!. Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng không thuận chiều với chất trí thức.
Đó là những nghịch lý .
Những nghịch lý ấy lại là nguyên nhân của một loạt các nghịch lý tiếp theo.
Kết quả trực tiếp nhất và cũng cơ bản nhất là sản xuất không phát triển, năng suất lao động thấp, sản phẩm hàng hoá ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu. Tính kém hiệu quả của tổ chức xã hội đã gây nên cái điều rất vô lý (thực ra chẳng có gì là vô lý cả)là muốn xây dựng một hệ thống phát triển nhất trong lịch sử loài người thì lại thu được một hệ thống không phát triển, thậm chí chống lại sự phát triển.
Con người một khi không đủ trí thức để có điều kiện huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi xa thì nó huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi gần. Không tăng được sản xuất để gia tăng của cải chung của xã hội thì cải tiến cách phân phối để chiếm được phần hơn trong cái tổng số còn ít ỏi. Sự ưu tiên đặc biệt này gắn chặt với chức quyền. Vì lợi mà phải chiếm quyền (vẫn từ cái gốc duy lợi mà ra). Có chức có quyền thì có lợi. Người ta xô nhau chiếm chức quyền làm cho bộ máy chính quyền vốn đã ít hiệu quả lại cứ phình to mãi ra.
Sự bao cấp đến mức thành đặc quyền đặc lợi cứ chất mãi gánh nặng lên vai Nhà nước, lên vai nhân dân. Đến mức không chịu nổi nữa thì Nhà nước buộc phải chống bao cấp nhưng lại buông khỏi tay mình những bộ phận cần được bao cấp chu đáo. Điều này làm cho Nhà nước yếu đi. Nhà nước yếu đi thì điều khiển làm sao được sự chống bao cấp? Nạn bao cấp không thực sự mất đi mà tồn tại một cách không chính thức thì lại càng nguy hiểm hơn. Nó mang tính bao cấp trá hình, bao cấp nhưng lại pha màu tự do cạnh tranh và chụp giựt. Giảm biên chế là một nhu cầu sống còn, nhưng nếu tiến hành giảm biên chế trong điều kiện cán bộ khung chưa được kiện toàn trước từ trên xuống (mà điều này thì không thể thực hiện được) và ở bên dưới thì quần chúng chưa thực sự làm chủ thì mỗi đợt giảm biên chế càng tạo điều kiện để những con ký sinh trùng bám chặt thêm vào ruột Nhà nước mà sinh đẻ thêm và đẩy những người trung thực ra rìa, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng tư hữu hoá cơ quan nhà nước.
Khi người chỉ huy không đủ trí thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ :một mặt rất muốn dùng những người tri thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên tâm toạ hưởng giữa nơi mập mờ, lùng nhùng, họ không giám thực sự nâng cao dân trí, không giám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Anh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi (và cái châm ngôn kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp lúc này chỉ còn là khẩu hiệu trên giấy thôi, chân lý khoa học không được tôn trọng đã đành mà lợi ích cũng không còn là lợi ích giai cấp).
Có ham muốn, có quyết tâm mà thiếu trí thức thì ắt là sa vào vòng duy ý chí. Người chỉ huy sẽ trở thành kẻ độc tài dù tự giác hay không tự giác. Vì thế mà xất hiện cái điều tưởng như rất vô lý là muốn xây dựng một hệ thống đầy đủ tính Con người nhất thì lại thu được một hệ thống mâu thuẫn với quyềnCon người. Chúng ta không quên rằng Mác và Lê-nin đã từng phê phán kịch liệt thứ chủ nghĩa xã hội kiểu trại lính, kiểu này là sản phẩm chung của bệnh xã hội chủ nghĩa không tưởng .
Việc xây dựng chuyên chính vô sản như các nước xã hội chủ nghiã chúng ta đã làm ắt phải dẫn đến sự sùng bái cá nhân. Tại sao vậy?
Từ trước tới nay con người bao giờ cũng coi là giá trị nhân đạo là giá trị cao nhất, là thước đo cao nhất. Thước đo cuối cùng. Nhưng đùng một cái, xuất hiện và lưu hành luận điểm rằng : Không có sự nhân đạo chung chung. Trong xã hội có giai cấp thì sự nhân đạo cũng mang tính giai cấp (!). Vì thế, trước hết phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là tiêu biểu cho thời đại nên lợi ích của giai cấp này cũng phù hợp với lợi ích chân chính của các giai cấp khác . Thế là tính nhân đạo được thay thế bằng tính giai cấp, hay nói đúng hơn là phải quy thuận tính giai cấp. Cái giá trị tinh thần cao quý nhất mà con người bao đời đã dùng để dạy bảo nhau sống cho nên người bỗng bị đảo chính rất gọn để thay bằng một giá trị được gọi là mới, là cao hơn, nhưng chưa qua thử thách của lịch sử (và ngay về phương pháp luận nó đã tỏ ra không ổn). Nhưng ngay cả sự đề cao giai cấp công nhân ở đây cũng chỉ mang tính hình thức vì vấn đề không dừng ở chỗ này. Giai cấp phải được đại diện bởi đội tiền phong của mình là Đảng, tính giai cấp được nâng thành tính đảng.
Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ (mà thực tiễn cho thấy tính dân chủ thì thường bị vi phạm, còn tính tập trung thì bất khả vi phạm). Đảng tập trung vào trung ương đảng. Trung ương tập trung vào Bộ Chính trị… và cuối cùng tập trung vào một người nắm quyền cao nhất. Ai chống lại người này thực tế sẽ dễ dàng bị quy là chống Trung ương(tất nhiên về lý thuyết thì không ai nói như vậy), chống Trung ương sẽ bị quy là chống Đảng, chống đảng quy thành chống giai cấp mà chống đúng vào cái giai cấp tiêu biểu của nhân loại thì hiển nhiên là chống dân tộc, hoặc chống cả nhân loại rồi còn gì! Rốt cuộc, tình cảm thiêng liêng đối với dân tộc hay đối với toàn nhân loại lại được đo bằng sự trung thành đối với một con người cụ thể. Chuyện Stalin. Mao Trạch Đông… dễ dàng quy nhiều đồng chí của mình trong Bộ chính trị thành phản động đã chẳng là những ví dụ điển hình đó sao?
Vì thế mà tồn tại cái điều rất vô lý (?) là muốn xây dựng một hệ thống dặc trưng bởi tính tập thể, tính thế giới đại đồng, tính toàn nhân loại lại thu được một hệ thống rất dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân cực đoan mâu thuẫn với tính Nhân loại.
Tiến hoá cũng là quá trình trong đó tính Nhân từng bước lấn dần Tính thú. Khi yếu tố nhận không được phát huy thì yếu tố thu sẽ vùng dậy. Biết bao vụ án đau lòng là biểu hiện sự lộng phát của thú tính. Con người dùng bạo lực để thống trị nhau, lấy việc trừng trị người khác làm điều thích thú, sinh sống bằng cách chiếm đoạt những giá trị có sẵn của thiên nhiên và xã hội chứ không sáng tạo…
Con người là một sinh vật xã hội nên sự phát triển tính nhân cũng đồng thời là sự phát triển tính xã hội, tính có tổ chức của nó. Tính xã hội là một biểu hiện cao của nhân tính, còn chủ nghĩa quân phiệt với mọi biểu hiện mất dân chủ về bản chất là dị chứng của thu tính, nên hai thứ đó phải được xem là đối lập nhau như nước với lửa.
Chúng ta có trong tay một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược, lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên, trong đó không có cái gì ở đúng vị trí hợp lý của nó cả (tức là một hệ thống có khuyết tật cấu trúc) nên cứ người nọ thì phải làm việc của người kia.
Vì thế mà không một quy luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát huy được xã hội. Vì như trong vùng phần vật chất thì những quy luật của thế giới vật chất thông thường không còn tác dụng vậy. Trong một không gian phần quy luật thì những nghịch lý sẽ hoạt động :cái tính thua cái thô, cái trật tự thua cái lộn xộn, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ… và con người đi giật lùi!
Có phải rằng bấy lâu nay chúng ta lúng túng muốn cắt nghĩa cho mình mà không sao cắt nghĩa được? Vì, hiện thực xã hội tuy có thế thật nhưng lý tưỏng của chúng ta thì không thể nói là không cao đẹp. Vì thực tế khách quan tuy có thế thật, nhưng chung quanh thì ai muốn thế? Vì hiện nay tuy có thế thật, nhưng trước đây đâu có thế? Vì tuy có những kẻ đồi bại thật nhưng còn bao tấm gương tuyệt vời trong sáng thì sao? Vì tạm thời tuy có thế thật nhưng rồi xã hội vẫn phải tiến lên chứ?… Vâng, đúng như vậy, không có gì là bế tắc cả. Khi chúng ta đã gỡ được cái điểm nút cuối cùng trong mớ bòng bong ấy thì mọi điều rắc rối trái ngược đều được giải đáp thích đáng, trọn lý vẹn tình. Có tách bạch được chính xác tận gốc cái sai mới bảo vệ được các giá trị chân chính. Còn nhưũng lời giải nửa chừng thì có thể dễ dung hoá nhưng rồi sẽ lại tiếp tục bế tắc.
Chỉ cần chúng ta thực sự phục thiên. Nhưng chúng ta sẽ thực sự là những người bế tắc nếu chúng ta bảo thủ. Một bên là lý thuyết tốt đẹp, một bên là thực tế không chấp nhận được, chúng ta bị nhốt ở giữa, lúng túng đối phó, mà bức tường hai bên cứ khép dần lại dưới sức ép của nhu cầu đổi mới. Xuất phát từ lương tâm trong sáng, nhiều người bảo thủ trước đây nay đã dũng cảm tự phản bác mình để thành một chiến sỹ trong Mặt trận Đổi mới. Nhưng những kẻ cố thủ thì đối phó với thực tiễn bằng cách chiếm hữu chức quyền cho chắc, tranh thủ dùng quyền lực để kiếm lợi, miệng thì nói dối, tìm mọi cách để nguỵ biện, nguỵ trang.
Chiếm hữu quyền lực là biến tướng của chế độ chiếm hữu, nó khôn ngoan và triệt để hơn nhiều so với chiếm hữu trực tiếp tư liệu sản xuất. Còn muốn dung hoà giữa hai thứ không thể dung hoà là lý tưởng tốt đẹp và thực tế xấu thì có cách gì khác mà không phải chống chế bằng cách nói dối, nguỵ trang? Nguỵ trang và chống nguỵ trang là cục diện đặc biệt của những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá… ngày nay. Những tính cách vốn là ưu điểm như nhân hậu chín chắn, có quan điểm lịch sự, biết chờ đợi nhau, có thái độ thực tế, biết thích nghi… nhiều khi lại được sử dụng một cách rất bệnh hoạn để che đậy những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cơ hội như thái độ bạc nhược, quay mặt đi một cách vô trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, trì hoãn, thậm chí độc ác, lì lợm, cố thủ… Một bộ phận của giới trí thức bị phân hoá đã rời khỏi sự duy lý chân thực mà đứng hẳn sang phía duy lợi cực đoan (như vậy thì về thực chất họ không còn là trí thức)đã góp phần rất đắc lực vào sự nói dối, nguỵ biện này. Trong bức tranh chung về sự tha hoá, cái bệnh nói dối cứ như con bạch tuộc ôm ghì lấy toàn xã hội, chẳng để cho ai thoát ra!
Nhưng không, chúng ta phải thoát ra!
Sau cùng, nhìn bao quát toàn sơ đồ để thấy một điều mấu chốt là dùng phương tiện không thích đáng thì không tới được mục đích.
Ta tưởng tượng như có anh lái xe nọ, phải đến một miền rất xa để kiếm lương thực về cho mọi người và cho anh ta. Nhưng chúng ta lại trao cho anh ta một phương tiện quá đặc biệt, một chiếc xe mà trên đó có đủ lương thực mà anh ta thoả sức ăn cả đời không hết, thì chỉ cần đi một quãng là anh ta bắt đầu thay đổi ý định (sự thay đổi tất yếu, mà chúng ta gọi là thoái hoá biến chất) :cứ việc ngồi trên xe mà toạ hưởng, chứ dại gì xông pha mưa gió đến nơi xa xôi nọ! Dẫu có đến nơi thì cái phần mà anh ta sẽ được chia chắc gì cái phần mà anh đang có sờ sờ trên chiếc xe này? Thế là anh lái xe biến luôn cái phương tiện thành mục đích. Anh ta đến đích một mình đến thiên đường rất sớm còn mọi người thì chẳng ai được xơ múi gì cả. Khi chiếc xe chỉ nổ máy, chữa máy giữa đường mà không đi nữa, hoặc muốn đi thế nào cũng được, thì người lái xe đâu cần phải biết lái xe? Cái anh ta cần biết bây giờ là kĩ thuật gây ảo giác và làm tê liệt khả năng phản ứng của mọi người.
Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích. Chủ nghĩa Mác Lênin được Bác coi là con đường là phương tiện giúp dân ta đi đến đích đó. Nhưng rồi dần dần lại xuất hiện tín ngưỡng dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa ! Lạ như vậy đấy, chủ nghĩa với tư cách là con đường, là phương tiện thì nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta thờ? Động cơ ấy lúc đầu hẳn là do ta thành tâm quá đó thôi… Nhưng dù do gì đi nữa thì hậu quả nguy hiểm vẫn là ở chỗ : khi cái phương tiện đã thành cái mục đích thì lẽ tự nhiên cái mục đích (ở đây là dân tộc), đổi chỗ để thành cái phương tiện (!).
Như trong câu chuyện khôi hài ngày trước, khi đôi giầy da được đánh bóng và kẹp bên nách thì đôi bàn chân phải thay đôi giầy mà đương đầu với gai góc. Lúc vấp ngã, chân toé máu ra, ai cũng tưởng phen này anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giầy xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp để anh ta càng thêm tự hào về sự thông minh của mình, rằng nếu không thì cú vấp vừa rồi hắn đã làm sứt mất đôi giầy quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt. Nhưng anh ta có cái lý của anh ta đấy vì đối với anh ta, thì cái để anh hy vọng trở nên sang trọng chính là đôi giầy bóng chứ đâu phải đôi chân! Cố giữ lấy đôi giầy cũng phải!
Đã có một thời, và thời đó còn tiếp đến ngày nay, chúng ta muốn giương ngọn cờ giai cấp làm tấm hộ chiếu quá cảnh vượt qua mọi biên giới dân tộc để thống nhất toàn thế giới. Nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng ý muốn ấy chỉ là chủ quan (nên chẳng giương ngọn cờ dân tộc để khắc phục dần mâu thuẫn giai cấp?). Có một quy luật đã được kiểm nghiệm là nếu thống nhất với nhau chủ yếu từ tiếng gọi của lợi quyền thì trước sau cũng lại chia ly chính do lợi quyền. Chỉ có một thứ thực sự là của chung của nhân loại, không thể chiếm hữu, không thể độc quyền, một thứ mà ngày nay cứ xuất hiện ở đâu là quốc tế hoá ngay, đó là trí tuệ, là khoa học, là sự phát hiện những quy luật khách quan. Cái tài sản chung quý báu này luôn được đổi mới, bổ sung. Còn nói về chủ nghĩa thì đủ sức ôm cả cái loại người bất diệt có lẽ chỉ có và chỉ cần một chủ nghĩa, cái chủ nghĩa chẳng có gì mới nhưng bất diệt mà ta rất nên tôn thờ là chủ nghĩa nhân đạo. (mọi chủ nghĩa khác chẳng qua chỉ là những hệ phương pháp ứng xử để ta sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thôi).
Có hành động đúng quy luật thì mọi việc mới xuôi được. Hiện tượng xã hội lộn ngược với những nghịch lý đã nói trên chỉ có thể giải thích rằng ngay từ những điểm xuất phát chúng ta đã nghĩ và làm không đúng với những quy luật khách quan nên càng về sau càng chịu sự chống trả quyết liệt của quy luật. Muốn làm chủ như chúng ta thường nói, trước hết phải làm chủ được các quy luật. Muốn vậy, con người trước hết phải có sự học hành đầy đủ để tiếp thu những trí thức đã có của nhân loại, phải được suy nghĩ hoàn toàn tự do, và đặc biệt phải lấy thực tiễn để kiểm chứng mọi điều đã nghĩ, kể cả những điều mà một thời những tượng đá đóng đanh vào lịch sử. Chính Các Mác đã khuyên mọi người hãy hoài nghi tất cả , hoặc là nhân cách của một nhà khoa học lớn! Chính Mác đã nêu tấm gương về sự tự hoài nghi, tự xét lại mình thì đương nhiên Mác không thể chấp nhận danh hiệu mác xít cho những ai muốn biến Mác thành một thần tượng bất khả xâm phạm. Một khi Mác đã không chấp nhận để mọi người coi mình là thần tượng thì còn học trò nào của Mác được phép chấp nhận điều đó? Từ khi Mác mất đến nay hơn một thế kỷ, con người lớn lên như vũ bão, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hẳn bộ mặt loài người, kỹ thuật tin học ngày càng gắn cả loài người thành một chính thể. Nếu chúng ta không nhìn nhận xã hội và lịch sử tinh tường hơn thời kỳ của Mác thì sao xứng đáng là những lớp con cháu của Mác? Những điều thú vị là ở chỗ việc nhìn nhận lại một số điểm trong học thuyết của Mác không làm giảm đi sự tôn kính của chúng ta đối với Mác. Chúng ta hãnh diện đã có Mác là một người khổng lồ nhân từ cho ta được phép đứng lên vai.
Những hoài nghi mới là điều kiện cần, chưa là điều kiện đủ. Hoài nghi có thể dẫn đến đúng hơn, cũng có thể dẫn đến sai hơn. Nếu lấy cớ hoài nghi của Mác để bổ sung, để nâng cao, thậm chí để cứu học thuyết Mác khỏi rơi vào sự tầm thường như có người đã nói, mà đưa thêm vào những quan điểm thiếu khoa học, thiếu thực tế, đầy ý chí chủ quan của mình thì lại càng tai hại hơn.
Vấn đề đặt ra quá lớn, tầm suy nghĩ của một người lại quá nhỏ, khuôn khổ một bài viết lại càng nhỏ hơn, thiếu sót là điều không tránh khỏi. Nhung chúng tôi thiết nghĩ sẽ không phải là vô ích nếu chúng ta chân thành, nếu chúng ta nói thật. Nhiều người nói thật sẽ dẫn đến sự thật. Điều quan trọng là tìm được cái gốc của những sai lầm. Tuy từ đó đến chỗ xác định được cách đi đúng đắn cũng không dễ dàng (và vấn đề này không phải là nội dung đề cập của bài viết này), nhưng khi cái gốc của sai lầm đã được phơi bày thì cái hướng đúng cũng tự nhiên đã lộ ra rồi.
Alexandr Bovin, nhà phân tích chính trị của tờ Izvestia (Liên xô), sau khi nói rõ quan điểm kiên quyết chối bỏ loại xã hội chủ nghĩa quan liêu, thiếu thốn triền miên, xuống cấp những giá trị đạo đức, thay tự do bằng sự trấn áp dốt nát… đã nêu ý kiến về cách sửa chữa là : tất cả các đoạn trên con dấu toán học cần phải đổi ngược lại! (Tuần tin thanh niên. 8-8-1988).
Và nếu như trên trang giấy đã đổi ngược các dấu toán học thì trên đường đi lẽ nào không phải quay ngược các tấm biển chỉ đường.
Nhân loại, như lịch sử đã từng chứng minh, rốt cuộc vẫn dắt tay nhau đi chung trên một con đường, con đường tiến hoá, thêng thang, dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ!
Ngày 2-9-1988
Tú Xuân Hà Sỹ Phu
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự quá hạn hẹp về hiểu biết của mình mà cả gan làm bàn chuyện quốc gia đại sự. Nhưng biết đâu nỗi bức xúc này lại chẳng là chung của nhiều người!
Xin được tiếp cận vấn đề từ góc nhìn của những quy luật lôgic khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên. Bài viết có tính chất gợi mở, cung cấp một số nhận thức cơ bản để suy nghĩ, chưa giải quyết vấn đề gì cụ thể, trọn vẹn.
Nếu từ bài viết có thể lọc ra một chút gì đó gọi được là cái hạt nhân hợp lý thì đối với người viết đã là điều may mắn lắm rồi, nên xin miễn phi lộ dài dòng về những sai sót khó tránh khỏi. Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm, và cá nhân người viết xin nhận trách nhiệm trước mọi sự phán xét.
Những điều này nói ra hôm nay là đã quá muộn.
Viết ngày 2 tháng 9 năm 1988
(bài viết cách đây gần 20 năm, nhưng vẫn còn nguyên giá trị với hiện tại)
Tú Xuân Hà Sỹ Phu
Hãy thử để cho trí tuệ được vài phút tự do, xem nó có thể mách bảo ta điều gì. Sau đó, nếu thấy không có gì ích lợi thì xin mọi người cứ coi đây như những lời nhảm nhí mà loại nó ra khỏi bộ nhớ, tưởng cũng chẳng tốn kém là bao. Ít ra điều đó cũng chứng tỏ rằng chúng ta đã có sự trao đổi dân chủ thực sự.
Chúng ta hãy cùng nhau tham gia vào việc giải thử bài toán lôgic lớn của xã hội mà bấy lâu nay cứ ở trong tình trạng vừa như rất đơn giản vừa như quá thần bí không có lời giải : Mọi điều rắc rối bắt nguồn từ đâu?
Bây giờ ta làm theo cách công khai và dân chủ. Mọi người hãy tạm thời thoát ly khỏi những nếp suy nghĩ mà ta đang có, kể cả những tư duy đang được coi là đổi mới, tạm thời thoát ly khỏi những điều đang gắn chặt với quyền và lợi của ta hàng ngày, để cùng ngồi lên chiếc xe của tư duy lôgic. Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật, mọi chủ nghĩa… đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không được kém.
Đi một vòng để quan sát toàn bộ bức tranh, ta có nhận xét tổng quát rằng hệ thống mà ta đang khảo sát chứa đựng quá nhiều nghịch lý :
- Hệ thống dân chủ gấp triệu lần lại vướng mắc chính vấn đề dân chủ.
- Hệ thống tiêu biểu cho sự thật (có các nhà xuất bản Sự thật, và chúng ta thường nói chỉ chúng ta mới có đủ dũng cảm nói sự thật) thì đang phải cố chữa cho được bệnh nói dối.
- Hệ thống tiêu biểu cho triết học duy vật lại là điển hình của bệnh duy ý chí
- Hệ thóng ưu việt (tức là tốt vượt hẳn lên), tiêu biểu cho sự giải phóng Con người, thì lại không ưu việt về quyền Con người, luôn bị chỉ trích về quyền Con người :
- Hệ thống tiêu biểu cho sự đề cao những giá trị tinh thần thì lại xuống cấp những giá trị đạo đức, đang cần làm lành mạnh trở lại những quan hệ xã hội và gia đình.
- Hệ thống tiêu biểu cho tính nhân loại, tính tập thể thì lại xuất hiện nhiều ví dụ tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào tay một người, lấy một người thay cho tất cả.
- Hệ thống tiêu biểu cho sức sáng tạo của tri thức (xem định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa cộng sản và người cộng sản) thì vấn đề tri thức lại cứ cộm lên như một hạt nhân của toàn bộ cái hiện thực cần phải cải tổ.
- Chúng ta vẫn nói sự thắng thua giữa các chế độ rốt cuộc là ở năng suất lao động. Ta luôn nói về những thắng lợi to lớn nhưng chính về năng suất lao động thì ta lại thua quá xa!
- Hệ thống xã hội chủ nghĩa được mô tả đầy sức sống, còn chủ nghĩa tư bản thì đang giẫy chết. Vậy mà, trong tất cả những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía giẫy chết cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia!
* Ta thấy rằng những nghịch lý trên đã và vẫn còn tồn tại nguyên vẹn sau 20 năm .
Trước thực tế ấy, nhiều luận điểm đã và đang được chúng ta đưa ra để giải thích. Ví dụ :
- Ta có đường lối đúng đắn nhưng khi thực hiện thì có sai lầm. Trên thì đúng đắn nhưng cán bộ trung gian quá yếu. Chủ nghĩa thì đúng đắn nhưng con đường quá mới mẻ nên ta chưa có kinh nghiệm.
- Đây là khó khăn tạm thời do chiến tranh để lại, bè lũ Đế Quốc, Thực dân và bọn Bành trướng phải chịu trách nhiệm về tình hình khó khăn này.
- Do có những cá nhân không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên thoái hoá, biến chất.
- Do chế độ quan liêu bao cấp. Do thiếu sót về những tư duy cụ thể như tư duy kinh tế, tư duy đối ngoại, v. v…
Trước một xã hội đầy những nghịch lý lớn lao đã kể ở trên thì những luận điểm giải thích này dẫu có phản ảnh được phần nào đấy hiện thực cũng không đủ tầm để bao quát cả một thời kỳ của lịch sử nhân loại. Nó khác nào như đem dầu xoa, thuốc cảm để chữa ung thư vậy.
Từ khi có cuộc Cải tổ, Đổi mới trong phạm vi toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đến nay, chúng ta đã làm được một việc là đem bày ra công khai trước mọi người một số tư liệu để chúng ta nhìn cho đúng chân dung của mình, một chân dung mà tự mình cũng thấy không thể chấp nhận được.
Những hiện tượng tiêu cực rất cần được phơi bày, nhưng phơi bày mãi cũng không bao giờ hết, và nếu cứ sửa chữa theo kiểu thợ vườn sai đâu sửa đấy thì chẳng khác nào chơi trò trốn tìm vòng quanh. Điều quan trọng là những hiện tượng tiêu cực đã nêu cần phải hệ thống hoá lại, tìm mối liên hệ nhân quả giữa chúng, rồi theo mạch lôgic mà tìm đến nguyên nhân gốc rễ. Cái mạch lôgic ấy chẳng chóng thì chày sẽ tự động diễn ra trong đầu mỗi người nên dầu ta có sợ cũng không cản lại được. Vận mệnh lâu dài của hàng nghìn triệu người cũng đòi hỏi phải làm như vậy, nếu không mọi sự sửa chữa đều chỉ là sự đối phó nhất thời.
Những thông tin, nhất là thông tin từ cuộc Cải tổ ở Liên xô, đã bộc lộ dần một vài hướng suy nghĩ. Chẳng hạn :
- Cần xem lại một số luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay ít ra là xem lại cách hiểu về những luận điểm cơ bản ấy (ý nghĩ này chẳng có gì mới lạ vì chính Mác và Lênin cũng khuyên như thế và cũng từng làm như thế).
- Chủ nghĩa Đế quốc có thật là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản hay chỉ là một trong những bước đi ban đầu của chủ nghĩa tư bản !Và một khi chủ nghĩa tư bản chưa ở giai đoạn tất yếu phải cáo chung thì điều đó có nghĩa là lịch sử chưa đòi hỏi và chưa tạo tiền đề để có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đích thực…
Chưa nói nguyên nhân nào là đúng, nguyên nhân nào là sai, nhưng ít ra nguyên nhân cũng phải ở tầm cỡ như vậy mới có thể có sức chi phối ghê gớm đối với xã hội như chúng ta đã và đang thấy.
Song ta cũng không cần nói theo ai cả. Hãy dùng hiểu biết của chính mình mà rà soát lại toàn bộ vấn đề xem có tự phát hiện được điều gì không?
Điều đầu tiên để hiểu một chủ nghĩa là xem mục đích và phương tiện mà chủ nghĩa ấy đề cập tới.
Lý tưởng cộng sản là một lý tưởng hết sức tốt đẹp. Vì đã gọi là lý tưởng thì lý tưởng nào chẳng hướng tới hạnh phúc của con người, giải phóng con người khỏi những bất hạnh về vật chất, tinh thần và sự bất công xã hội? Lý tưởng cộng sản nhấn mạnh tính xã hội của con người cũng như của tư liệu sản xuất, điều đó là khoa học, là xu hướng tiến hoá tất yếu của xã hội loài người, nhưng sự xã hội hoá sẽ diễn ra cụ thể thế nào là thuận quy luật thì sẽ bàn sau. Một xã hội không còn người bóc lột người, chính điều này còn gây tranh luận, vì nếu hiểu một cách chung chung là không còn áp bức bất công thì chẳng có gì để tranh luận, nhưng nếu hiểu chữ bóc lột ở đây như một thuật ngữ kinh tế chính trị học, là bóc lột giá trị thặng dư , thì vấn đề lại không đơn giản chút nào. Tuy vậy vấn đề này cũng xin tạm xếp sang một bên, vì tự nó cũng chưa thể là nguyên nhân sinh ra mọi chuyện.
Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với một lý tưởng lại là đi tới lý tưởng đó bằng cách nào, bằng phương tiện hay công cụ gì. Luận điểm về con đường đấu tranh giai cấp và công cụ chuyên chính vô sản chính là hòn đá tảng của chủ nghĩa xã hội khoa học . Do tầm quan trọng như vậy mà ta hãy dừng lại lâu một chút trên hòn đá tảng này để xem xét cho kỹ, không thể vội và cho qua được.
Giai cấp là gì, và ý nghĩa của nó trong xã hội như thế nào?
Để phân định điều phải và quyết định thái độ cũng như hành động của mình, con người có ba thứ căn cứ : trí thức, lòng tin và quyền lợi.
Luôn lấy trí thức, lấy khoa học làm căn cứ, đó là chủ nghĩa DUY Lý (1), cái gì trái với quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Luôn lấy lòng tin làm căn cứ là chủ nghĩa DUY TIN (2), cái gì trái với những điều mình tin, mình cho là thiêng liêng thì không chấp nhận. Luôn lấy lợi ích làm căn cứ là chủ nghĩa DUY LỢI (3), cái gì trái với lợi ích của mình hay của những người chung lợi ích với mình thì không chấp nhận.
Theo mức độ duy lý, con người chia thành tri thức và không tri thức. Theo mức độ duy tín thì chia thành có tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Người thực sự duy lý hay thực sự duy tin thì tự thân không có tính giai cấp rõ rệt, vì sự phân chia giai cấp chỉ là sự phân chia theo quyền lợi. (Giai cấp là những tập đoàn người được phân chia theo sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, theo vai trò trong tổ chức sản xuất và theo sự phân phối của cải xã hội : cả ba tiêu chuẩn này đều là quyền và lợi). Hiểu theo nghĩa đó thì người mang tính giai cấp rõ rệt là người duy lợi (túc là lấy lợi ích làm chuẩn, kể cả lợi ích chân chính, lợi ích của một giai cấp).
Vì vậy sự phân chia con người thành giai cấp tuy có những ý nghĩa nhất định nhưng không phải là sự phân chia duy nhất có ý nghĩa, không hoàn toàn đầy đủ, không bao hàm được hết xã hội. Tuyệt đối hoá lý thuyết giai cấp là rơi vào thuyết giai cấp cực đoan. Đem cái nhìn giai cấp trùm lên mọi hiện tượng của con người và xã hội sẽ không tránh khỏi làm méo mó xã hội, sẽ gặp lúng túng khi giải quyết vấn đề tri thức, vấn đề tôn giáo cùng như nhiều vấn đề xã hội khác.
Vì quan niệm rằng người nào cũng phải có một thành phần giai cấp nên ta gặp lúng túng khi không biết xếp những người tri thức vào giai cấp nào, và gán luôn cho họ cái bản chất lừng khừng không kiên quyết cách mạng . Thực tế đã cho thấy nhiều nhà bác học đã kiên quyết lên giàn lửa để bảo vệ chân lý khoa học, người tín đồ kiên quyết cách mạng đến mức trở thành lãnh tụ cách mạng, khi nhận thức rằng sự vận động đó phù hợp với quy luật, phù hợp với căn cứ duy lý của mình.
Duy lý, duy tín và duy lợi tuy khác nhau ở xuất phát điểm nhưng muốn hành động đạt được kết quả tốt thì lại cần sự hỗ trợ của nhau : vì thế nếu phát triển đến độ hoàn hảo thì lại gặp nhau, thống nhất với nhau. Nhưng trong thực tế, ở một phạm vi xác định, ở một con người cụ thể thì ba căn cứ ấy ít khi đạt được sự thống nhất hoàn hảo, thường có tình trạng một trong ba căn cứ ấy nổi lên chiếm vai trò chủ đạo để dẫn dắt hành vi của con người. Ba yếu tố ấy đan vào nhau, chuyển hoá lẫn nhau trong mối quan hệ tay ba vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, nên việc tách bạch ba yếu tố ấy trong một con người, trong một việc làm không phải là điều dễ dàng, và đó là nguồn gốc sâu xa của biết bao hiện tượng rối rắm nan giải của xã hội và của mỗi con người. Nhiều người đã tuyên bố chủ trương kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp công nhân , nói cách khác là chủ trương chung sống hài hoà giữa duy lý và duy lợi Nhưng trong cuộc chung sống lâu dài thì cái cân bằng rất hợp lý này cứ chuyển dịch để duy lợi thôn tính dần duy lý.
Các Mác rất coi trọng vấn đề lợi ích và đây là một điều đáng quý ở một nhà khoa học, nhưng là nhà khoa học, Mác đứng ở góc độ duy lý mà tiếp cận sang duy lợi. Nhiều người khác cũng đi theo chủ nghĩa Mác nhưng lại từ góc độ duy lợi mà tiếp cận sang duy lý. Người càng ít hiểu biết thì tính duy lý càng ít (nhân bất học, bất trí ly), để thành duy lợi cực đoan, hoặc lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo.
Trong ba căn cứ ấy thì duy lý tiêu biểu cho khoa học, cho quy luật khách quan nên là căn cứ đúng đắn nhất, nó bao dung dược cái duy lợi và duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa duy lợi hay duy tín mà nắm vai trò dẫn dắt xã hội thì nó rất dễ tiến đến cực đoan mà không chấp nhận nói cái duy lý. Giáo hội La mã ngày trước đã thiêu sống nhiều nhà bác học chỉ vì họ phát hiện những định luật khoa học. Những tên vua Trung Quốc nào võ biên ít học thì đã phân thư, khanh nho (đốt sách giết nhà nho). Những hồng vệ binh mù chữ Trung Quốc và những tên lính Pônpốt mù chữ Campuchia đã hành hạ những trí thức ưu tú của dân tộc mình. Phong trào Xô viết Nghệ tĩnh năm 1930 đã đặt tri thức lên hàng đầu trong khẩu hiệu Trí, phú, địa hao – Đào tận gốc, trốc tận rễ!. Nhiều nạn nhân văn hoá của Liên xô đã là nạn nhân điển hình của những sự đối xử tương tự…
Nhìn rộng ra nửa thì lịch sử tiến hoá của nhân loại thực chất là gì?
Do biết sử dụng công cụ nên, khác với mọi sinh vật, con người không tiến hoá bằng cách biến đổi những cấu tạo của cơ thể mà bằng cách hoàn thiện không ngừng công cụ lao động. Cùng với sự cải tiến công cụ là cải tiến quy trình sản xuất, hoàn thiện kỹ năng… dẫn đến tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tất cả những biến đổi cơ bản ấy đều là biểu hiện sự gia tăng tri thức của con người về các quy luật tự nhiên và quy luật quản lý, tổ chức xã hội. Vậy thì, cái lõi bên trong của dòng tiến hoá là dòng phát triển của trí thức nhân loại, còn sự đấu tranh giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, tức là sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ, là những hiện tượng xã hội kèm theo mà thôi. Dòng gia tăng tri thức của xã hội là cái lõi, nó phản ánh bản chất của sự tiến hoá nên không thể thiếu và tồn tại xuyên suốt từ đầu đến cuối lịch sử loài người. Còn sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ bên ngoài, là một trong những hiện tượng xã hội kèm theo nên chỉ có tính chất tạm thời, luôn thay đổi màu sắc, và con người có khả năng sử dụng nó, hoặc giảm nhẹ hay loại trừ nó đi trong nhiều giai đoạn của dòng tiến hoá bất tận.
Khi nói trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuẩt là yếu tố năng động nhất thì sẽ là thiếu sót nếu không tiếp tục nói : trong lực lượng sản xuất thì sự năng động ấy nằm ở yếu tố con người, trong con người thì sự năng động ấy nằm ở bộ óc tức là phần lao động trí tuệ.
Bản chất của sự tiến hoá là như vậy. Tinh thần khoa học quan trọng nhất trong học thuyết xã hội của Mác đáng lẽ cũng phải là như vậy. Nhưng dưới lăng kính giai cấp nhiều cuốn sách lại có lối mô tả dòng tiến hoá của xã hội như sau :… Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ… . Lối mô tả ấy xuất phát từ nhận thức sai lầm coi dòng tiến hoá là dòng đấu tranh của những giai cấp bị trị lật đổ những giai cấp thống trị, nên mỗi khi giai cấp bị trị không nắn được quyền lãnh đạo trong xã hội mới thì chúng ta coi là công lao của họ bị lợi dụng. Thế thì lịch sử là một chuỗi bất công đầy vô lý, trong đó những kẻ xấu bụng đi lợi dụng công lao người khác lại cứ được lịch sử cho kế tiếp nhau điều khiển xã hội. Đến khi có cách mạng vô sản thì mới phát sinh một ngoại lệ, giai cấp công nhân là giai cấp bị trị lên lãnh đạo xã hội và ngoại lệ này mới chính là niềm mơ ước của nhân loại (!!).
Không, lịch sử rất thống nhất chứ không tuỳ tiện. Mỗi cuộc biến đổi được gọi là cách mạng xã hội bao giờ cũng là sự cạnh tranh của hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai bậc thang về trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ khác nhau của khoa học, của tri thức con người thời ấy. Thế lực lãnh đạo mới sẽ thắng vì có trình độ cao hơn (thế lực có trình độ cao hơn này không bao giờ nằm ở giai cấp bị trị, dù giai cấp bị trị có tạm thời đoạt được quyền binh thì trước sau họ cũng lại rơi vào quỹ đạo của những thế lực kia). Sự đấu tranh của giai cấp bị trị cũng như của quần chúng nói chung chỉ có tác dụng tạo ra áp lực to lớn của xã hội giúp cho chuyên chính mau chóng chuyển từ tay thế lực lãnh đạo cũ sang tay thế lực lãnh đạo mới, điều này đáp ứng yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội. Lôgic của lịch sử vốn là như vậy, bất chấp chúng ta vừa lòng hay không vừa lòng. Việc đưa giai cấp công nhân vào vị trí giai cấp lãnh đạo trong toàn xã hội mới là một việc làm mang tính đạo đức, làm nức lòng số đông đang công phẫn nên có sức mạnh tập hợp to lớn trong thời kỳ đầu, nhưng không theo quy luật nên dễ tự phát sinh mâu thuẫn trong những giai đoạn sau.
Nhiều người nhận xét rằng càng về sau việc thực thi chủ nghĩa Mác càng có xu hướng không đúng với những tinh thần nguyên lý ban đầu của Mác và chiều hướng của những sai lệch dường như có tính lôgic, tính quy luật.
Thực tế đã bộc lộ một nhận thức sai lệch của nhiều người, hiểu tinh thần chính của chữ cách mạng là ở ý nghĩa lật đổ, lật đổ người giàu, lấy của chia cho người nghèo như các anh hùng hảo hán ngày xưa vẫn làm. Đây là biểu hiện chủ nghĩa bình quân thiển cận của nông dân. Chủ nghĩa bình quân gắn chặt với tư tưởng lật đổ. Khi mình chưa có thì muốn lật đổ để cạo bằng, cạo bằng được rồi lại muốn mình giàu hơn người khác, lật đổ vua nhưng rồi mình lại thành vua.
Muốn làm giảm tận gốc bất công xã hội và tăng hạnh phúc của nhân dân thì sự công bằng phải đặt trên cơ sở nâng cao cả nền sản xuất của xã hội. Động tác chính của cách mạng là động tác nâng cao chứ không phải động tác cạo bằng. Cạo bằng là động tác của bạo lực, nâng cao là động tác của tri thức khoa học, của năng lực tổ chức sản xuất và tổ chức xã hội. Chúng ta đấu tranh cho công bằng chứ không chấp nhận sự cạo bằng, vì cạo bằng làm cho xã hội thấp đi và tạo ra sự bất công mới khốc liệt hơn.
Nếu ta mới chỉ đạt những thắng lợi to lớn trong những việc mang tính lật đổ và cạo bằng mà chưa có những thắng lợi to lớn trong việc nâng cao thì thực chất là chưa có cách mạng. Cách mạng xã hội không đồng nghĩa với cướp chính quyền, cũng không đồng nghĩa với giải phóng dân tộc… mặc dù những hình thức đấu tranh chống áp bức, đòi công bằng xã hội (trong đó có đấu tranh giai cấp)đều rất cần thiết, và còn luôn luôn cần thiết trong xã hội loài người, đều có giá trị riêng của nó và liên quan mật thiết với nhau.
Giai cấp bị trị trong xã hội cũ không thể trở thành giai cấp lãnh đạo trong xã hội mới vì bản thân giai cấp bị trị không thể tiêu biểu cho trình độ nhất của tri thức con người thời ấy. Chính vì thế mà khi muốn đưa giai cấp công nhân thành giai cấp lãnh đạo, Mác đã phải đặt ra một điều kiện rằng đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp để có thể tiêu biểu cho nền sản xuất hiện đại, để công nhân đồng thời là trí thức.
Nhưng thử nhìn vào các nước tư bản đã có nền đại công nghiệp hiện nay thì ta thấy tầng lớp tiêu biểu cho khoa học, cho trí thức tiên tiến của các nước ấy không thể nào lại là công nhân của các nước ấy được, mặc dù trình độ công nhân của họ cao hơn của các nước khác rất nhều. Mà hình như khi trình độ của những công nhân ấy được nâng cao lên (như ở Nhật bản chẳng hạn) thì họ lại giảm đấu tranh đi, tức là giảm sự giác ngộ giai cấp , tức là giảm khả năng trở thành lãnh đạo cách mạng. Như vậy thì chính yêu cầu của Mác đề ra cũng có thể còn là bật cấp, huống chi những người Bôn-sê-vich Nga (cũng như đảng Cộng sản ở nhiều nước đã làm cách mạng vô sản) thì lại bất chấp cả yêu cầu tối thiểu ấy của Mác, chủ trương làm cách mạng ngay trong khi giai cấp công nhân nước mình còn cách xa yêu cầu của Mác. Chưa kể trường hợp mà sự lãnh đạo thực chất còn nằm trong quỹ đạo nông dân thì đương nhiên còn tai hại hơn.
Phải chăng do ý thức được cái lỗ hổng này mà Lê-nin đã yêu cầu người cộng sản phải cấp trau giồi trí thức, và tự Lê-nin đã nêu một tấm gương về sự sử dụng trí thức, kể cả trí thức của chế độ cũ. Lê-nin nói : Chỉ có đem toàn bộ kho trí thức của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản!. Cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức. Chất cộng sản và chất trí thức phải chung làm một. Nếu một đảng viên đều được kết nạp trên tinh thần ấy của Lê-nin thì đảng cộng sản chính là đảng của trí thức cách mạng.
Nhưng trong thực tế thì lời giáo huấn ấy có thực hiện được không?
Đây là một tình trạng có thật và khá phổ biến : Chúng tôi là những con em công nhân và nông dân. Nếu chúng tôi chỉ học khoảng hết cấp một và ở lại địa phương sản xuất thì với lòng hăng say mà chúng tôi vốn có giám chắc rằng chúng tôi đã thành đảng viên từ lâu rồi. Nhưng chúng tôi lại ham học. Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau giồi bao nhiêu trí thức và khoa học tự nhiên, về triết học Mác Lê-nin, về chính trị… thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành thành phần tiểu tư sản bấp bênh. Trở thành kỹ sư, tiến sỹ, giáo sư… thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học!. Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng không thuận chiều với chất trí thức.
Đó là những nghịch lý .
Những nghịch lý ấy lại là nguyên nhân của một loạt các nghịch lý tiếp theo.
Kết quả trực tiếp nhất và cũng cơ bản nhất là sản xuất không phát triển, năng suất lao động thấp, sản phẩm hàng hoá ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu. Tính kém hiệu quả của tổ chức xã hội đã gây nên cái điều rất vô lý (thực ra chẳng có gì là vô lý cả)là muốn xây dựng một hệ thống phát triển nhất trong lịch sử loài người thì lại thu được một hệ thống không phát triển, thậm chí chống lại sự phát triển.
Con người một khi không đủ trí thức để có điều kiện huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi xa thì nó huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi gần. Không tăng được sản xuất để gia tăng của cải chung của xã hội thì cải tiến cách phân phối để chiếm được phần hơn trong cái tổng số còn ít ỏi. Sự ưu tiên đặc biệt này gắn chặt với chức quyền. Vì lợi mà phải chiếm quyền (vẫn từ cái gốc duy lợi mà ra). Có chức có quyền thì có lợi. Người ta xô nhau chiếm chức quyền làm cho bộ máy chính quyền vốn đã ít hiệu quả lại cứ phình to mãi ra.
Sự bao cấp đến mức thành đặc quyền đặc lợi cứ chất mãi gánh nặng lên vai Nhà nước, lên vai nhân dân. Đến mức không chịu nổi nữa thì Nhà nước buộc phải chống bao cấp nhưng lại buông khỏi tay mình những bộ phận cần được bao cấp chu đáo. Điều này làm cho Nhà nước yếu đi. Nhà nước yếu đi thì điều khiển làm sao được sự chống bao cấp? Nạn bao cấp không thực sự mất đi mà tồn tại một cách không chính thức thì lại càng nguy hiểm hơn. Nó mang tính bao cấp trá hình, bao cấp nhưng lại pha màu tự do cạnh tranh và chụp giựt. Giảm biên chế là một nhu cầu sống còn, nhưng nếu tiến hành giảm biên chế trong điều kiện cán bộ khung chưa được kiện toàn trước từ trên xuống (mà điều này thì không thể thực hiện được) và ở bên dưới thì quần chúng chưa thực sự làm chủ thì mỗi đợt giảm biên chế càng tạo điều kiện để những con ký sinh trùng bám chặt thêm vào ruột Nhà nước mà sinh đẻ thêm và đẩy những người trung thực ra rìa, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng tư hữu hoá cơ quan nhà nước.
Khi người chỉ huy không đủ trí thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ :một mặt rất muốn dùng những người tri thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên tâm toạ hưởng giữa nơi mập mờ, lùng nhùng, họ không giám thực sự nâng cao dân trí, không giám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Anh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi (và cái châm ngôn kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp lúc này chỉ còn là khẩu hiệu trên giấy thôi, chân lý khoa học không được tôn trọng đã đành mà lợi ích cũng không còn là lợi ích giai cấp).
Có ham muốn, có quyết tâm mà thiếu trí thức thì ắt là sa vào vòng duy ý chí. Người chỉ huy sẽ trở thành kẻ độc tài dù tự giác hay không tự giác. Vì thế mà xất hiện cái điều tưởng như rất vô lý là muốn xây dựng một hệ thống đầy đủ tính Con người nhất thì lại thu được một hệ thống mâu thuẫn với quyềnCon người. Chúng ta không quên rằng Mác và Lê-nin đã từng phê phán kịch liệt thứ chủ nghĩa xã hội kiểu trại lính, kiểu này là sản phẩm chung của bệnh xã hội chủ nghĩa không tưởng .
Việc xây dựng chuyên chính vô sản như các nước xã hội chủ nghiã chúng ta đã làm ắt phải dẫn đến sự sùng bái cá nhân. Tại sao vậy?
Từ trước tới nay con người bao giờ cũng coi là giá trị nhân đạo là giá trị cao nhất, là thước đo cao nhất. Thước đo cuối cùng. Nhưng đùng một cái, xuất hiện và lưu hành luận điểm rằng : Không có sự nhân đạo chung chung. Trong xã hội có giai cấp thì sự nhân đạo cũng mang tính giai cấp (!). Vì thế, trước hết phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là tiêu biểu cho thời đại nên lợi ích của giai cấp này cũng phù hợp với lợi ích chân chính của các giai cấp khác . Thế là tính nhân đạo được thay thế bằng tính giai cấp, hay nói đúng hơn là phải quy thuận tính giai cấp. Cái giá trị tinh thần cao quý nhất mà con người bao đời đã dùng để dạy bảo nhau sống cho nên người bỗng bị đảo chính rất gọn để thay bằng một giá trị được gọi là mới, là cao hơn, nhưng chưa qua thử thách của lịch sử (và ngay về phương pháp luận nó đã tỏ ra không ổn). Nhưng ngay cả sự đề cao giai cấp công nhân ở đây cũng chỉ mang tính hình thức vì vấn đề không dừng ở chỗ này. Giai cấp phải được đại diện bởi đội tiền phong của mình là Đảng, tính giai cấp được nâng thành tính đảng.
Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ (mà thực tiễn cho thấy tính dân chủ thì thường bị vi phạm, còn tính tập trung thì bất khả vi phạm). Đảng tập trung vào trung ương đảng. Trung ương tập trung vào Bộ Chính trị… và cuối cùng tập trung vào một người nắm quyền cao nhất. Ai chống lại người này thực tế sẽ dễ dàng bị quy là chống Trung ương(tất nhiên về lý thuyết thì không ai nói như vậy), chống Trung ương sẽ bị quy là chống Đảng, chống đảng quy thành chống giai cấp mà chống đúng vào cái giai cấp tiêu biểu của nhân loại thì hiển nhiên là chống dân tộc, hoặc chống cả nhân loại rồi còn gì! Rốt cuộc, tình cảm thiêng liêng đối với dân tộc hay đối với toàn nhân loại lại được đo bằng sự trung thành đối với một con người cụ thể. Chuyện Stalin. Mao Trạch Đông… dễ dàng quy nhiều đồng chí của mình trong Bộ chính trị thành phản động đã chẳng là những ví dụ điển hình đó sao?
Vì thế mà tồn tại cái điều rất vô lý (?) là muốn xây dựng một hệ thống dặc trưng bởi tính tập thể, tính thế giới đại đồng, tính toàn nhân loại lại thu được một hệ thống rất dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân cực đoan mâu thuẫn với tính Nhân loại.
Tiến hoá cũng là quá trình trong đó tính Nhân từng bước lấn dần Tính thú. Khi yếu tố nhận không được phát huy thì yếu tố thu sẽ vùng dậy. Biết bao vụ án đau lòng là biểu hiện sự lộng phát của thú tính. Con người dùng bạo lực để thống trị nhau, lấy việc trừng trị người khác làm điều thích thú, sinh sống bằng cách chiếm đoạt những giá trị có sẵn của thiên nhiên và xã hội chứ không sáng tạo…
Con người là một sinh vật xã hội nên sự phát triển tính nhân cũng đồng thời là sự phát triển tính xã hội, tính có tổ chức của nó. Tính xã hội là một biểu hiện cao của nhân tính, còn chủ nghĩa quân phiệt với mọi biểu hiện mất dân chủ về bản chất là dị chứng của thu tính, nên hai thứ đó phải được xem là đối lập nhau như nước với lửa.
Chúng ta có trong tay một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược, lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên, trong đó không có cái gì ở đúng vị trí hợp lý của nó cả (tức là một hệ thống có khuyết tật cấu trúc) nên cứ người nọ thì phải làm việc của người kia.
Vì thế mà không một quy luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát huy được xã hội. Vì như trong vùng phần vật chất thì những quy luật của thế giới vật chất thông thường không còn tác dụng vậy. Trong một không gian phần quy luật thì những nghịch lý sẽ hoạt động :cái tính thua cái thô, cái trật tự thua cái lộn xộn, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ… và con người đi giật lùi!
Có phải rằng bấy lâu nay chúng ta lúng túng muốn cắt nghĩa cho mình mà không sao cắt nghĩa được? Vì, hiện thực xã hội tuy có thế thật nhưng lý tưỏng của chúng ta thì không thể nói là không cao đẹp. Vì thực tế khách quan tuy có thế thật, nhưng chung quanh thì ai muốn thế? Vì hiện nay tuy có thế thật, nhưng trước đây đâu có thế? Vì tuy có những kẻ đồi bại thật nhưng còn bao tấm gương tuyệt vời trong sáng thì sao? Vì tạm thời tuy có thế thật nhưng rồi xã hội vẫn phải tiến lên chứ?… Vâng, đúng như vậy, không có gì là bế tắc cả. Khi chúng ta đã gỡ được cái điểm nút cuối cùng trong mớ bòng bong ấy thì mọi điều rắc rối trái ngược đều được giải đáp thích đáng, trọn lý vẹn tình. Có tách bạch được chính xác tận gốc cái sai mới bảo vệ được các giá trị chân chính. Còn nhưũng lời giải nửa chừng thì có thể dễ dung hoá nhưng rồi sẽ lại tiếp tục bế tắc.
Chỉ cần chúng ta thực sự phục thiên. Nhưng chúng ta sẽ thực sự là những người bế tắc nếu chúng ta bảo thủ. Một bên là lý thuyết tốt đẹp, một bên là thực tế không chấp nhận được, chúng ta bị nhốt ở giữa, lúng túng đối phó, mà bức tường hai bên cứ khép dần lại dưới sức ép của nhu cầu đổi mới. Xuất phát từ lương tâm trong sáng, nhiều người bảo thủ trước đây nay đã dũng cảm tự phản bác mình để thành một chiến sỹ trong Mặt trận Đổi mới. Nhưng những kẻ cố thủ thì đối phó với thực tiễn bằng cách chiếm hữu chức quyền cho chắc, tranh thủ dùng quyền lực để kiếm lợi, miệng thì nói dối, tìm mọi cách để nguỵ biện, nguỵ trang.
Chiếm hữu quyền lực là biến tướng của chế độ chiếm hữu, nó khôn ngoan và triệt để hơn nhiều so với chiếm hữu trực tiếp tư liệu sản xuất. Còn muốn dung hoà giữa hai thứ không thể dung hoà là lý tưởng tốt đẹp và thực tế xấu thì có cách gì khác mà không phải chống chế bằng cách nói dối, nguỵ trang? Nguỵ trang và chống nguỵ trang là cục diện đặc biệt của những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá… ngày nay. Những tính cách vốn là ưu điểm như nhân hậu chín chắn, có quan điểm lịch sự, biết chờ đợi nhau, có thái độ thực tế, biết thích nghi… nhiều khi lại được sử dụng một cách rất bệnh hoạn để che đậy những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cơ hội như thái độ bạc nhược, quay mặt đi một cách vô trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, trì hoãn, thậm chí độc ác, lì lợm, cố thủ… Một bộ phận của giới trí thức bị phân hoá đã rời khỏi sự duy lý chân thực mà đứng hẳn sang phía duy lợi cực đoan (như vậy thì về thực chất họ không còn là trí thức)đã góp phần rất đắc lực vào sự nói dối, nguỵ biện này. Trong bức tranh chung về sự tha hoá, cái bệnh nói dối cứ như con bạch tuộc ôm ghì lấy toàn xã hội, chẳng để cho ai thoát ra!
Nhưng không, chúng ta phải thoát ra!
Sau cùng, nhìn bao quát toàn sơ đồ để thấy một điều mấu chốt là dùng phương tiện không thích đáng thì không tới được mục đích.
Ta tưởng tượng như có anh lái xe nọ, phải đến một miền rất xa để kiếm lương thực về cho mọi người và cho anh ta. Nhưng chúng ta lại trao cho anh ta một phương tiện quá đặc biệt, một chiếc xe mà trên đó có đủ lương thực mà anh ta thoả sức ăn cả đời không hết, thì chỉ cần đi một quãng là anh ta bắt đầu thay đổi ý định (sự thay đổi tất yếu, mà chúng ta gọi là thoái hoá biến chất) :cứ việc ngồi trên xe mà toạ hưởng, chứ dại gì xông pha mưa gió đến nơi xa xôi nọ! Dẫu có đến nơi thì cái phần mà anh ta sẽ được chia chắc gì cái phần mà anh đang có sờ sờ trên chiếc xe này? Thế là anh lái xe biến luôn cái phương tiện thành mục đích. Anh ta đến đích một mình đến thiên đường rất sớm còn mọi người thì chẳng ai được xơ múi gì cả. Khi chiếc xe chỉ nổ máy, chữa máy giữa đường mà không đi nữa, hoặc muốn đi thế nào cũng được, thì người lái xe đâu cần phải biết lái xe? Cái anh ta cần biết bây giờ là kĩ thuật gây ảo giác và làm tê liệt khả năng phản ứng của mọi người.
Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích. Chủ nghĩa Mác Lênin được Bác coi là con đường là phương tiện giúp dân ta đi đến đích đó. Nhưng rồi dần dần lại xuất hiện tín ngưỡng dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa ! Lạ như vậy đấy, chủ nghĩa với tư cách là con đường, là phương tiện thì nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta thờ? Động cơ ấy lúc đầu hẳn là do ta thành tâm quá đó thôi… Nhưng dù do gì đi nữa thì hậu quả nguy hiểm vẫn là ở chỗ : khi cái phương tiện đã thành cái mục đích thì lẽ tự nhiên cái mục đích (ở đây là dân tộc), đổi chỗ để thành cái phương tiện (!).
Như trong câu chuyện khôi hài ngày trước, khi đôi giầy da được đánh bóng và kẹp bên nách thì đôi bàn chân phải thay đôi giầy mà đương đầu với gai góc. Lúc vấp ngã, chân toé máu ra, ai cũng tưởng phen này anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giầy xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp để anh ta càng thêm tự hào về sự thông minh của mình, rằng nếu không thì cú vấp vừa rồi hắn đã làm sứt mất đôi giầy quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt. Nhưng anh ta có cái lý của anh ta đấy vì đối với anh ta, thì cái để anh hy vọng trở nên sang trọng chính là đôi giầy bóng chứ đâu phải đôi chân! Cố giữ lấy đôi giầy cũng phải!
Đã có một thời, và thời đó còn tiếp đến ngày nay, chúng ta muốn giương ngọn cờ giai cấp làm tấm hộ chiếu quá cảnh vượt qua mọi biên giới dân tộc để thống nhất toàn thế giới. Nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng ý muốn ấy chỉ là chủ quan (nên chẳng giương ngọn cờ dân tộc để khắc phục dần mâu thuẫn giai cấp?). Có một quy luật đã được kiểm nghiệm là nếu thống nhất với nhau chủ yếu từ tiếng gọi của lợi quyền thì trước sau cũng lại chia ly chính do lợi quyền. Chỉ có một thứ thực sự là của chung của nhân loại, không thể chiếm hữu, không thể độc quyền, một thứ mà ngày nay cứ xuất hiện ở đâu là quốc tế hoá ngay, đó là trí tuệ, là khoa học, là sự phát hiện những quy luật khách quan. Cái tài sản chung quý báu này luôn được đổi mới, bổ sung. Còn nói về chủ nghĩa thì đủ sức ôm cả cái loại người bất diệt có lẽ chỉ có và chỉ cần một chủ nghĩa, cái chủ nghĩa chẳng có gì mới nhưng bất diệt mà ta rất nên tôn thờ là chủ nghĩa nhân đạo. (mọi chủ nghĩa khác chẳng qua chỉ là những hệ phương pháp ứng xử để ta sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thôi).
Có hành động đúng quy luật thì mọi việc mới xuôi được. Hiện tượng xã hội lộn ngược với những nghịch lý đã nói trên chỉ có thể giải thích rằng ngay từ những điểm xuất phát chúng ta đã nghĩ và làm không đúng với những quy luật khách quan nên càng về sau càng chịu sự chống trả quyết liệt của quy luật. Muốn làm chủ như chúng ta thường nói, trước hết phải làm chủ được các quy luật. Muốn vậy, con người trước hết phải có sự học hành đầy đủ để tiếp thu những trí thức đã có của nhân loại, phải được suy nghĩ hoàn toàn tự do, và đặc biệt phải lấy thực tiễn để kiểm chứng mọi điều đã nghĩ, kể cả những điều mà một thời những tượng đá đóng đanh vào lịch sử. Chính Các Mác đã khuyên mọi người hãy hoài nghi tất cả , hoặc là nhân cách của một nhà khoa học lớn! Chính Mác đã nêu tấm gương về sự tự hoài nghi, tự xét lại mình thì đương nhiên Mác không thể chấp nhận danh hiệu mác xít cho những ai muốn biến Mác thành một thần tượng bất khả xâm phạm. Một khi Mác đã không chấp nhận để mọi người coi mình là thần tượng thì còn học trò nào của Mác được phép chấp nhận điều đó? Từ khi Mác mất đến nay hơn một thế kỷ, con người lớn lên như vũ bão, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hẳn bộ mặt loài người, kỹ thuật tin học ngày càng gắn cả loài người thành một chính thể. Nếu chúng ta không nhìn nhận xã hội và lịch sử tinh tường hơn thời kỳ của Mác thì sao xứng đáng là những lớp con cháu của Mác? Những điều thú vị là ở chỗ việc nhìn nhận lại một số điểm trong học thuyết của Mác không làm giảm đi sự tôn kính của chúng ta đối với Mác. Chúng ta hãnh diện đã có Mác là một người khổng lồ nhân từ cho ta được phép đứng lên vai.
Những hoài nghi mới là điều kiện cần, chưa là điều kiện đủ. Hoài nghi có thể dẫn đến đúng hơn, cũng có thể dẫn đến sai hơn. Nếu lấy cớ hoài nghi của Mác để bổ sung, để nâng cao, thậm chí để cứu học thuyết Mác khỏi rơi vào sự tầm thường như có người đã nói, mà đưa thêm vào những quan điểm thiếu khoa học, thiếu thực tế, đầy ý chí chủ quan của mình thì lại càng tai hại hơn.
Vấn đề đặt ra quá lớn, tầm suy nghĩ của một người lại quá nhỏ, khuôn khổ một bài viết lại càng nhỏ hơn, thiếu sót là điều không tránh khỏi. Nhung chúng tôi thiết nghĩ sẽ không phải là vô ích nếu chúng ta chân thành, nếu chúng ta nói thật. Nhiều người nói thật sẽ dẫn đến sự thật. Điều quan trọng là tìm được cái gốc của những sai lầm. Tuy từ đó đến chỗ xác định được cách đi đúng đắn cũng không dễ dàng (và vấn đề này không phải là nội dung đề cập của bài viết này), nhưng khi cái gốc của sai lầm đã được phơi bày thì cái hướng đúng cũng tự nhiên đã lộ ra rồi.
Alexandr Bovin, nhà phân tích chính trị của tờ Izvestia (Liên xô), sau khi nói rõ quan điểm kiên quyết chối bỏ loại xã hội chủ nghĩa quan liêu, thiếu thốn triền miên, xuống cấp những giá trị đạo đức, thay tự do bằng sự trấn áp dốt nát… đã nêu ý kiến về cách sửa chữa là : tất cả các đoạn trên con dấu toán học cần phải đổi ngược lại! (Tuần tin thanh niên. 8-8-1988).
Và nếu như trên trang giấy đã đổi ngược các dấu toán học thì trên đường đi lẽ nào không phải quay ngược các tấm biển chỉ đường.
Nhân loại, như lịch sử đã từng chứng minh, rốt cuộc vẫn dắt tay nhau đi chung trên một con đường, con đường tiến hoá, thêng thang, dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ!
Ngày 2-9-1988
Tú Xuân Hà Sỹ Phu
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)